Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

GIÊ-XU, NGÀI LÀ AI?


Trong lời kết lá thơ thứ hai của mình gởi cho những người đặt lòng tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu , sứ đồ Phi-e-rơ đã khuyên mọi người “Hãy tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ”. “Tấn tới trong sự thông biết Đức Chúa Giê-xu Christ” có nghĩa là “lớn lên”, là “tăng trưởng” trong sự nhận biết về Ngài. Điều đó, có nghĩa là không phải ngay lập tức chúng ta có thể hiểu hết. hiểu rõ về Đấng mà mình đã xưng nhận làm Chúa, và Cứu Chúa. Mỗi một ngày, qua Lời của Chúa và qua đời sống chúng ta sẽ được Chúa mặc khải chính Ngài cho chúng ta. Càng nhận biết về Ngài ta càng vững vàng trong đức tin nơi Chúa và càng kinh nghiệm một đời sống sung mãn, phước hạnh mà Chúa dành sẵn cho những người tin.
Các sách Phúc Âm bày tỏ cho chúng ta những chân dung rõ ràng về Cứu Chúa Giê-xu. Giăng 11: 1-44 là một trong những sự mặc khải như vậy. Chúng ta sẽ cùng nhau học biết về ba hình ảnh của Chúa Giê-xu qua phân đoạn Kinh Thánh này.
I. Giê-Xu – Đấng (Có Khả Năng) Khiến Kẻ Chết Sống Lại
Trong lịch sử phát triển của mình, con người đã đạt được những thành công rực rỡ trong mọi lĩnh vực. Con người có thể bay vào khoảng không vũ trụ bao la, sáng chế ra nhiều loại máy móc hiện đại, tinh vi; con người có thể bào chế ra những loại thuốc để chữa trị nhiều căn bịnh hiểm nghèo; người ta có thể thay thận, thay tim và thậm chí thụ tinh nhân tạo và cả nhân bản người. Con người có thể nhân bội lên (copy) sự sống mà Đức Chúa Trời tạo ra nhưng không thể tạo ra sự sống; con người có thể kéo dài sự sống nhưng không thể chiến thắng sự chết. Tại sao con người không thể chế ngự được hay không thể tiêu diệt được sự chết? Ấy là vì sự chết là hậu quả của tội lỗi, là tiền công mà tội lỗi phải được hưởng (Roma 6: 23). Mà “mọi người đều đã phạm tội” (Roma 3: 23) hay nói như người xưa là “nhân vô thập toàn” nên không một ai có thể tự cứu mình ra khỏi tội, và như thế không một ai có thể miễn trừ khỏi chết.
Thế nhưng, có một người đã từng bước đi trên trần thế này suốt 33 năm lại có thể “bứt đứt dây trói của sự chết” (Công vụ 2: 24), không chỉ cho chính mình mà còn cho người khác nữa. Người ấy có tên là Giê-xu. Sở dĩ, sự chết không thể cầm giữ được Giê-xu người làng Na-xa-rét, ở xứ Pa-le-xtin là vì chỉ duy nhất một mình Người là hoàn toàn Vô tội trong khắp cõi nhân sinh. Ngài vô tội nên mới có thể thắng hơn sự chết và có thể khiến cho những người đã chết được sống lại.
Các sách Phúc Âm ký thuật lại hai trường hợp Chúa Giê-xu khiến người chết sống lại. Đó là con gái của Giai-ru, người cai nhà hội (Mac 5: 21-42; Luca 8: 40-56) và của La-xa-rơ trong phân đoạn Kinh Thánh mà chúng ta đang suy gẫm hôm nay. Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai trường hợp khiến người chết sống lại này là con gái Giai-ru thì vừa mới chết, còn La-xa-rơ thì thân thể đã thối rữa.
Thế nhưng, đối với Chúa Giê-xu thì mọi sự đều được cả. Tại sao? – Vì Ngài là “Sự sống lại và Nguồn sống” (c.25 – Bản Diễn Ý) hay nói như trong Roma 4:17b thì Ngài là “Đấng làm cho kẻ chết sống lại …” (Bản Dịch Mới) và Ngài cũng chính là Đức Chúa Trời Toàn Năng.
Đâu là thực trạng nan đề của bạn? Vừa hết hy vọng như con gái Giai-ru hay đã từ lâu không còn hy vọng thì trong Đấng Christ mọi sự vẫn còn có thể, mọi sự vẫn còn tràn trề hy vọng. Bởi vì, đối với Chúa Giê-xu – Đấng mà chúng ta tin – không có gì là TRỂ, là QUÁ TRỂ cả ! Mọi sự đều được đối với Ngài (Lu.1:38)

II. Giê-Xu – Đấng Giải Quyết Điều Kêu Cầu Của Chúng Ta

Không một vị giáo chủ nào trên thế giới này luôn luôn lắng nghe lời cầu nguyện của tín đồ mình như Chúa Giê-xu. Không một vị lãnh đạo nào, một bậc làm cha làm mẹ nào bảo đảm chắc chắn rằng, “hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ cửa sẽ mở cho” (Mathiơ 7: 7) hay “Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết” (Giê-rê-mi 33: 3). Vâng, ngoài Chúa Giê-xu thì không một ai dám hứa như thế cả. Chỉ có Đấng Toàn Năng mới dám hứa với tôi con Ngài như thế. Và một khi đã hứa như thế thì đích thị Ngài là Đấng giải quyết điều kêu cầu của chúng ta.
Phân đoạn Kinh Thánh hôm nay cho chúng ta thấy được hai nguyên tắc trả lời của Chúa đối với điều chúng ta cầu xin.
Trước hết, Chúa giải quyết điều kêu cầu của chúng ta theo thời điểm của Chúa, chớ không theo thời điểm của chúng ta. Sau khi nghe tin La-xa-rơ ốm nặng, Ngài bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đương ở. Hãy lưu ý rằng, La-xa-rơ là người được Chúa thương, nhưng Ngài không đến ngay. Hai ngày sau chớ không phải ngay lập tức như trường hợp con gái Giai-ru. Tại sao Chúa Giê-xu đợi cho tới khi người ta chết thối rồi mới đến? – Chúa có thời điểm của Ngài cho mỗi công việc của chúng ta.
Chúa không trả lời ngay không phải vì bạn là người Chúa không thương hay thương ít mà là vì Chúa biết thời điểm nào là tốt nhất để ban cho bạn điều bạn cầu xin Ngài. Đừng thiếu hiểu biết và vội oán trách Ngài như chị em Mary, Ma-thê đã làm. Khá giữ lòng tin cậy nơi Chúa và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài. Đừng bao giờ quên rằng, Chúa luôn thức canh để thực hiện lời Ngài đã phán (Giê-rê-mi 1: 12).
Nguyên tắc thứ hai của Chúa khi đáp lời cầu xin của chúng ta là theo cách của Chúa: Làm sống lại thay vì chữa lành. Cả hai trường hợp khiến người chết sống lại, Chúa Giê-xu đều ban cho họ đều mà họ không cầu xin. Người nhà của Giai-ru và của La-xa-rơ chỉ xin Chúa đến chữa lành cho người thân của mình chớ không ai cầu xin sự sống lại cả.
Có thể, họ xin như thế vì người thân của họ chưa chết, tức là chưa hết hy vọng. Nếu đã chết rồi, tức là không còn hy vọng gì nữa thì liệu họ có còn đến cùng Chúa nữa không? Dù có thế nào thì điều Chúa ban cho là khác với những gì họ xin. Điều Chúa cho họ là trỗi hơn vô cùng những gì họ cầu xin và suy tưởng (Epheso 3: 20).
Tại sao Chúa Giê-xu làm như thế? – Câu trả lời là để Chúa Cha và Chúa Con được vinh hiển (c.4) và để củng cố đức tin của những người theo Ngài (c.15). Kinh Thánh Bản Diễn Ý dịch câu 15 của Giăng 11: “Cơ hội này giúp các con thêm đức tin, nên Ta mừng vì không có mặt Ta tại đó”.
Bạn có biết rằng, Chúa Giê-xu vui mừng vì không xuất hiện theo yêu cầu của bạn trong những ngày vừa qua không? Ngài rất đỗi vui mừng. Ngài vui mừng vì đức tin của bạn có cơ hội tăng trưởng (Gia-cơ 1:2-4). Nhưng như vậy thì chúng ta phải đợi Ngài trong bao lâu? Chúa biết khả năng chịu đựng của mỗi một người trong chúng ta (1 Corinhto10:13), cho nên Ngài sẽ đến vào thời điểm tốt nhất theo sự biết trước của Ngài. Ngài chắc sẽ đến. Ngài đến để ban cho bạn điều bạn cầu xin Ngài và thậm chí còn ban cho bạn “trỗi hơn những gì bạn cầu xin và suy tưởng nữa”

III. Giê-Xu - Đấng Sẵn sàng Đến Tận Nơi Để Trực Tiếp Giải Quyết

Là Đức Chúa Trời Toàn Năng, Chúa Giê-xu không cần phải đến làng Bê-tha-ni mới có thể khiến La-xa-rơ sống lại. Bằng chứng là đã không ít lần Chúa chỉ cần phán một lời là người ta được lành bịnh (Luca 7: 7), được giải cứu khỏi tà linh (Mathiơ 15: 28). Thế nhưng, Ngài đã đến. Điều đó bày tỏ tấm lòng, bày tỏ cái tình của Chúa. Với ai? – Với những người đang sống, tức là những người đã kêu xin cùng Ngài cho người thân của mình. Ngài đến không chỉ để đáp lời cầu xin của bạn mà còn là để yên ủi, để thêm sức cho bạn; Ngài đến để phán với bạn rằng: “Ấy là ta đây, đừng sợ !”. Nói cách khác, Ngài đến để cho bạn được đầy dẫy sự bình an.
Giống như những dân tộc khác ở vùng Trung Đông, người Do Thái cũng có phong tục táng người chết của gia đình trong cùng một hầm mộ. Mộ là những hang đá tự nhiên hoặc được tạo ra, có nắp bằng đá chận bên ngoài. Mỗi mùa “tảo mộ” người ta thường quét vôi trắng bên ngoài cửa mộ để khách lạ biết mà tránh nơi “chết chóc” này. Đây chính là hình ảnh mà Chúa Giê-xu đã dùng để ví những người Pha-ri-si và thầy thông giáo (Mathiơ 23: 27).
Có gì nơi hầm mộ? – Mùi hôi thối, mầm bệnh. Thông thường, người ta xa lánh những nơi có mùi xác chết, mùi hôi thối, những nơi đầy dẫy mầm bệnh.
Thế nhưng Chúa Giê-xu đã đến tận hầm mộ, Ngài sẵn sàng đến, không phải để VIẾNG MỘ, mà là để mở cửa hầm mộ, mở vòng khăn tang, mở tấm vãi liệm đang quấn quanh người chết. Ngài không tháo vãi liệm để Laxarơ sống lại trong thân thể bệnh tật xưa củ mà là để Laxarơ được tự do trong một thân thể lành mạnh hoàn toàn.
Có thể bạn đang chung sống với sự ô-uế, bất khiết, đầy dẫy mùi chết chóc, đang bị ngăn cách với sự sống thật, đang bị vãi liệm (bệnh tật, đói nghèo, nợ nần, vô tín, tội lỗi, thù hận, gian dâm, bất khiết, …) quấn quanh, thì hãy lắng tai nghe, Giê-xu đang gọi bạn: “Hỡi Laxarơ, hãy đi ra !” Bạn đã được tự do. Hầm mộ không phải là chỗ ở của bạn đâu. Vãi liệm không phải là trang phục của bạn đâu.
“Hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi” (Epheso 5: 14)
“Giờ anh em từ ngủ thức dậy đã đến, bởi sự cứu hiện nay đã gần chúng ta hơn lúc chúng ta mới tin. Đêm đã khuya, ngày gần đến; vậy chúng ta hãy lột bỏ những việc tối tăm mà mặc lấy áo giáp sáng láng. Hãy bước đi cách hẳn hoi như giữa ban ngày. Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét” (Roma 13: 11-13)
Hãy đứng lên, chuyển  động về phía ánh sáng, Giê-xu đang đợi bạn kìa!
MSB

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

TẢN MẠN VỀ RƯỢU BIA



Uống đôi chén giải sầu, sầu không giải mà áo khăn lại vải
Uống đôi chén cho tiêu thực, thực không tiêu mà đất ruộng lại tiêu
Ca dao
Không biết tự bao giờ rượu bia đã được sử dụng trong đời sống của con người. Rượu đóng một vai trò quan trọng trong các lễ nghi tôn giáo và thờ cúng; Rượu được sử dụng như một loại dược liệu, một dẫn chất đem lại cảm hứng và sự ngon miệng. Cũng không biết tự bao giờ, chén rượu đã qua mặt miếng trầu để mở đầu câu chuyện trong văn hóa Việt. Không có cái thứ nước uống có cồn này thì khó có thể ký hiệp đồng hay xin giấy phép; thiếu cái món cay cay kia thì làm sao có thể tứ hải kết tâm giao! Giữa những nguyên tắc sống đậm đà văn hóa rượu như thế thì người tin Chúa Giê-xu nên “nhập gia” hay “thoát tục”, tức là “người ta sao mình vậy” hay nhất quyết giữ mình khỏi những “lề thói của thế gian”?
Trong Kinh Cựu ước, một trong những dấu hiệu sung túc của dân sự Chúa là rượu nho (vang) dư dật (Phục truyền 7: 13; 33: 28; Châm ngôn 3: 10; Giô-ên. 2; 19, 24). Rượu được dùng để dâng cho Đức Chúa Trời. Của lễ này được gọi là của lễ quán. Ấy là khi người ta dùng ¼ hin (khoảng 0,75 lít) rượu nho rưới lên của lễ thiêu cung tế cho Chúa (Xuất hành 29: 40; Lê-vi ký 23: 13). Đây chính là hình ảnh mà sứ đồ Phao-lô nói về chính mình trong thơ tín cuối cùng của ông gởi cho người môn đệ thân tín là Timothe (2 Timothe 4: 6-8).
Theo Kinh Thánh thì rượu đem lại sự hứng khởi, vui vẻ (Quan xét. 9: 13; Thi thiên 104: 15; Truyền Đạo 2: 3); rượu dùng để “tiêu sầu” (Châm ngôn 31: 6) [Có lẽ chính vì điều này mà lính La-mã đã cho Chúa Giê-xu uống rượu pha sau khi đã đóng đinh Ngài trên thập giá (Ma-thi-ơ 27: 34; Mac 15: 23)]; rượu được sử dụng trong tất cả các buổi tiệc, từ đại yến ở hoàng cung Su-rơ cho đến tiệc cưới nghèo tận thị trấn nhỏ Ca-na. Người ta uống rượu nho ở nhà riêng và thậm chí tại nơi thờ phượng Chúa (Phục truyền 14: 23, 26; 1 Samuen 1: 12-15).
Chúa Giê-xu không chỉ hóa nước thành rượu vang trong tiệc cưới tại Ca-na (Giăng 2: 1-11) mà Ngài còn uống rượu! Đúng là trong câu chuyện ở Phúc Âm Giăng thì không có chi tiết nào cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-xu có uống rượu hay không. Nhưng không phải vô cớ mà những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo chỉ trích Chúa và các môn đệ khi nhìn thấy Ngài trong các buổi tiệc tại nhà những nhân viên thuế vụ (Ma-thi-ơ 9: 10-11; Mac 2: 15-16; Luca 5: 29-30). Chính câu nói của Chúa Giê-xu trong Luca 7: 33-34 giúp chúng ta thấy rất rõ “luận chứng” của các vị chức sắc tôn giáo thời bấy giờ: Thật vậy, ông Gio-an Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo : ‘Ông ta bị quỷ ám.’ Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo : ‘Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi. (Bản Công Giáo). [Các bạn có thể tham khảo các bản dịch khác (ngoài bản Truyền Thống) để thấy rõ hơn ý của câu Kinh Thánh đã trích dẫn].
Rồi trong buổi Tiệc Ly (Ma-thi-ơ 26: 27, 29; Mac 14: 23; Luca 22: 17; 1Corinhto 11: 25), trước giờ thọ nạn Chúa Giê-xu và các môn đệ đã uống gì: Nước nho hay rượu nho? Không hiểu tại làm sao mà trong các bản tiếng Việt thì chỉ có bản Công Giáo dịch là rượu (giống như bản Tiếng Nga và bản TEV- Today’s English Version), còn các bản dịch khác (kể cả NIV, NKJV) đều dịch là nước nho hoặc là  “fruit of the vine” mà thôi. Thế nhưng trong nguyên văn Hy Lạp thì đích thị là vang, chỉ có điều không biết đó là vang đỏ hay vang trắng mà thôi. Buổi Tiệc Ly thực chất là bữa ăn Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Đừng quên rằng, khi còn tại thế Chúa Giê-xu đã thực thi chức vụ trong thân xác một con người - một người Do Thái. Mà như trên đã nói, thì trong bối cảnh thế này, người Do Thái dùng rượu nho là lẽ tự nhiên. Và có lẽ do ảnh hưởng của cách dịch bản văn Kinh Thánh mà nước dùng trong Tiệc Thánh ngày nay có sự khác biệt giữa các Hội thánh, tức là có nơi dùng rượu nho, nơi khác thì dùng … “theo ý mình lấy làm phải”.
Dường như để bảo vệ quan niệm truyền thống rằng, Cơ-đốc nhân không được uống rượu nên người ta tìm mọi cách để giải thích cho phù hợp các đoạn Kinh Tân Ước liên quan đến rượu. Có hai lối giải thích chính. Một cho rằng, những từ “rượu” mà các phần Kinh Thánh đã đề cập, kể cả 1Timothe 5: 23 là nói về nước ép trái nho chưa lên men, chớ không phải rượu như ngày nay ta hiểu đâu. Do đó, ngày xưa Chúa Giê-xu cũng như các môn đồ và Cơ-đốc nhân thời trước thì dùng … vô tư. Vì họ uống “cái nước đó” giống như ta uống trà bây giờ vậy thôi, còn rượu thật như bây giờ thì chớ nhé.
Ý thứ hai thì sực nức tinh thần vệ sinh môi trường luôn, dù lối giải thích này xuất hiện không phải trong những năm đầu của thế kỷ XXI mà chúng ta đang sống đâu nhé. Theo đó, từ rượu trong các phần Kinh Thánh Tân Ước là rượu nho thật, nhưng vì nguồn nước thời bấy giờ thường bị ô nhiểm, không được sạch nên dân Do Thái phải dùng rượu nho và về sau Phao-lô khuyên Timothe nên dùng chút chút là để “thanh lọc cơ thể, không lo bị nóng” thôi [1].
Thế nhưng, lối giải thích đầu hơi bị ép … còn hơn là người Do Thái ép nho. Nếu rượu trong 1Timothe 5: 23 chỉ là nước nho thì tại sao Timothe chỉ nên dùng chút chút. Một ít nước nho có thể bổ “tì vị” được sao? Hãy xem tác giả P. A trong tác phẩm Những Sưu Tầm Về Thánh Kinh Phong Tục đã viết: “… Nước của các quả nho màu đen thì được dùng làm rượu vang có mùi hơi chua, còn nước của quả màu trắng và xanh thì đem đun sôi ít lâu và dùng làm rượu ngọt. Người dân Do Thái không uống rượu không men cũng không có thói quen uống nước nho mới được ép” [2]. Cũng trong cuốn sách này, ở trang 19, tác giả mô tả các món mà người Do Thái sử dụng trong bữa ăn Lễ Vượt Qua là: thịt chiên con, bánh không men, một tô nước muối (hình ảnh giọt lệ khi làm phu tù ở Ai-cập và nước Biển Đỏ), rau đắng (gồm củ cải, rau diếp, rau cần và một bó kinh giới), bốn tách rượu nho (tượng trưng cho bốn lời hứa trong Xuất hành 6: 6-7) và charosheth (một loại thức ăn giống như cháo gồm táo, chà là, lựu và đậu được nấu chín rồi đánh nhuyễn với nhau, bên trên để những cọng quế cay tượng trưng cho rơm nhồi đất làm gạch thuở xưa). Như vậy, nước nho hay fruit of the vine mà Chúa Giê-xu và các môn đồ dùng trong buổi Tiệc Ly là vang chánh hiệu.
Còn lối giải thích thứ hai thì đúng là “méo mó nghề nghiệp” rồi. Không biết căn cứ vào đâu mà mấy nhà giải kinh kia phán một câu xanh rờn rằng, nguồn nước vào thế kỷ thứ I  bị ô nhiễm, không hợp vệ sinh, chứa đầy vi trùng. Nói đâu xa, ngày hôm nay tại nhiều làng quê ở Việt Nam ta, nước giếng khơi vẫn còn “tinh khiết” gấp trăm lần mấy món nước đóng chai là cái chắc. Mà cứ cho là nước thời đó ô nhiễm thiệt đi thì sao Chúa Giê-xu lại quá liều khi tu nước giếng (Giăng 4) và sao Đức Chúa Trời lại đi tiếc cho Ê-li vài bầu rượu để thanh lọc cơ thể khi ngày mỗi ngày ông phải “bị” uống nước khe?
Như vậy, rõ ràng cả Kinh Thánh không cấm con dân Chúa uống rượu hay các thức uống có cồn, ngoại trừ các trường hợp đặc biệt như các thầy tế lễ khi thi hành chức phận (Lê-vi ký 10: 8-9) hay những người Na-xi-rê (Dân số ký 6: 2-3). Thế nhưng, dường như Kinh Thánh không cổ xúy cho việc uống nhiều rượu bia trong dân sự Chúa và thậm chí không ít lần Kinh Thánh phê phán những kẻ say sưa. Chỗ đầu tiên trong Kinh Thánh đề cập đến rượu là hình ảnh một gã say, một nam nhân mang tên Nô-ê đang trong tư thế rất Yomost, hay nói theo ngôn ngữ ngày nay cực “hot” (Sáng Thế ký 9: 21). Và chỗ cuối cùng trong Kinh Thánh nói về rượu là hình ảnh một thùng ép nho (Khải Huyền 19: 15), biểu tượng cho sự phán xét cuối cùng đối với nhân gian, mà Đấng thi hành án phạt đó không ai khác hơn là Vua Công Bình của cả cõi trời đất: Giê-xu Christ!
Hãy nghe những gì Chúa nói:
Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào; Phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan (Châm ngôn 20: 1);
Chẳng xứng hiệp cho các vua uống rượu, hay là cho các quan trưởng nói rằng: Vật uống say ở đâu? (Châm ngôn 31: 4);
Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng (Epheso 5: 18);
Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trang, không được nói hai lời, không được ghiền rượu (1Timothe 3: 8);
Vì người giám mục làm kẻ quản lý nhà Đức Chúa Trời thì phải cho không chỗ trách được. Chẳng nên kiêu ngạo, giận dữ, nghiền rượu, hung tàn, tham lợi” (Tit 1: 7);
“Các bà già cũng vậy, phải có thái độ hiệp với sự thánh; đừng nói xấu, đừng uống rượu quá độ” (Tit 2: 3).
Thế thì con dân Chúa được quyền sử dụng rượu bia, miễn là không say sưa, không quá chén? Nhưng thế nào là “quá”: ít ly hay y lít? Thuở đời nay, bao nhiêu kẻ ngả nghiêng trên chiếu rượu nhưng có chàng (hay nàng) nào đủ tỉnh táo để thừa nhận mình say.
Thôi thì kể chi đến những hạng bình dân hạ đẳng sớm đắng (cà-phê), chiều cay khắp làng trên xóm dưới. Hãy nói đến việc uống rượu có văn hóa của những kẻ có học, có quyền trong cộng đồng dân Chúa thử xem sao. Ta có được làm một chút giải mỏi sau một chuyến đi dài, hoặc một chút đưa cay trước mỗi bữa ăn, đặc biệt là những bữa ăn có khá nhiều tôm cua cá ghẹ. Không phải là đế Gò Đen, Bầu Đá, hay làng Vân gì đâu, chỉ là cốc rượu Tây hoặc một lon bia chẳng hạn?
Vấn đề không phải là ta có được uống không mà vấn đề nằm ở chỗ: uống để làm gì?
Vui ư? - Bạn phải cần có bia rượu mới vui được à? Để giải mỏi, để kích thích tiêu hóa? – Có thật sự là sức khỏe bạn có vấn đề và phải cần đến “dược liệu dẫn chất” này sao? Hay tì vị của bạn cũng có vấn đề như Timothe?
Thực ra, câu Kinh Thánh 1Timothe 5: 23 thuộc dạng ‘đất đang bị tranh chấp’, tức là các nhà giải kinh vẫn chưa ngã ngũ trong việc tranh luận. Nếu bạn có tiền để mua một mảnh đất thì bạn có can đảm để bỏ tiền ra cho miếng đất đang bị tranh chấp không? Sẽ là thiếu khôn ngoan nếu vịn vào câu Kinh Thánh trên để uống rượu.
Derek Prince nói rằng, có nhiều điều trong đời sống chúng ta, Kinh Thánh không hướng dẫn cách chi tiết nhưng nếu ta căn cứ vào nguyên tắc sống trong 1Corinhto 10: 31 và Colose 3: 17 thì ta có thể biết được điều gì nên và điều gì không nên làm. Theo đó, nếu một Cơ-đốc nhân khi nâng một cốc rượu, bia (hoặc đốt một điếu thuốc lá hay thuốc lào) mà đủ dũng khí để cất tiếng “Tạ ơn Chúa đã con cốc rượu/bia hay điếu thuốc này. Nhân danh Chúa Giê-xu Christ. A-men” thì cứ vô tư mà uống, vô tư mà hút. Còn nếu không dám nói thì đừng chạm đến [3].
Nếu việc uống rượu, bia của bạn – dù trong phòng riêng hay nơi công cộng, dù độc ẩm hay đối ẩm – mà làm cho Chúa được vinh hiển, tức là làm cho Chúa được người ta khen ngợi, làm cho danh Chúa được cả sáng thì xin mời. Còn nếu việc uống bia rượu của chúng ta mà làm cho danh Chúa bị bôi nhọ, đức tin của anh em đồng đạo bị tổn hại thì hãy làm theo lời khuyên dạy của Phao-lô: “đừng uống rượu và kiêng cữ mọi sự chi làm dịp vấp phạm cho anh em mình” (Rô-ma 14: 21).
Như vậy, người tin Chúa không uống rượu bia không phải vì bị cấm mà là vì tình. Tình với Chúa và với những người đồng đức tin với mình. Cũng thì ăn uống nhưng ăn uống như dân Y-sơ-ra-ên xưa thì nhận lấy hình phạt thảm khốc (1Corinhto 10: 7-12); còn những tín đồ tại Giê-ru-sa-lem trong buổi đầu của Hội thánh thì lại được “toàn dân thương mến” (Bản Công Giáo) và mỗi ngày Chúa lấy thêm những người được cứu vào trong cộng đoàn (Công vụ. 2: 46-47).
Hãy chọn cho mình kiểu ăn uống thích hợp. Bạn có toàn quyền để chọn lựa: uống rượu hay không uống rượu nhưng đừng bao giờ quên rằng, “rượu nặng (brandy) màu trắng nhưng làm đỏ mặt và đen danh dự” (A. Tsê-khốp).
MSB



[1] William McDonald. Kinh Thánh Chú Giải. Bản Tiếng Việt. HCM: Np. 2007, 1065
[2] P. A. Thánh Kinh Phong Tục. Np, Nd, 19.
[3] Derek Prince. Cảm Tạ, Ngợi Khen Và Thờ Phượng (Bản Tiếng Nga). Mat-xcơ-va: Russki Dukhovnuj Centr, 1994, 12.

PHÉP LẠ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI


Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời Toàn Năng, tức là không việc gì mà Chúa không làm được. Nơi đâu có sự hiện diện thật của Ngài, nơi đó có dấu kỳ phép lạ xảy ra; nơi đâu có sự hiện diện của Ngài, nơi đó có những công việc quyền năng được bày tỏ. Một trong những phép lạ như thế đã được ký thuật lại trong sách Phúc Âm Luca. 5: 1-11.
Khi Đức Chúa Jêsus ở trên bờ hồ Ghê-nê-xa-rết, đoàn dân đông chen lấn nhau xung quanh Ngài đặng nghe đạo Đức Chúa Trời. Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ, người đánh cá đã xuống khỏi thuyền giặt lưới, thì Ngài lên một chiếc thuyền trong hai chiếc, là chiếc của Si-môn, biểu người đem ra khỏi bờ một chút; rồi Ngài ngồi mà dạy dỗ dân chúng. Khi Ngài phán xong thì biểu Si-môn rằng: Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá. Si-môn thưa rằng: Thưa thầy, chúng tôi đã làm suốt đêm không bắt được chi hết; dầu vậy, tôi cũng theo lời thầy mà thả lưới. Họ thả lưới xuống, được nhiều cá lắm, đến nỗi lưới phải đứt ra. Họ bèn ra vọi gọi đồng bạn mình ở thuyền khác đến giúp; bạn kia đến chở cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi gần chìm. Si-môn Phi-e-rơ thấy vậy, liền sấp mình xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus, mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin ra khỏi tôi, vì tôi là người có tội. Số là, vì đánh cá dường ấy, nên Si-môn cùng mọi người ở với mình đều thất kinh; Gia-cơ và Giăng con Xê-bê-đê, là những kẻ đồng bạn với Si-môn cũng đồng một thể ấy. Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng Si-môn rằng: Đừng sợ chi, từ nay trở đi, ngươi sẽ nên tay đánh lưới người. Đoạn, họ đem thuyền vào bờ, bỏ hết thảy mà theo Ngài.
Chúng ta sẽ cùng nhau khám phá xem đâu là những điều kiện cần có để phép lạ của Đức Chúa Trời có thể xảy ra và đâu là mục đích thật của những phép lạ mà Chúa đã, đang và sẽ tiếp tục làm trong đời sống của con dân Ngài.
I.      Điều Kiện Để Phép Lạ Xảy Ra (1-7)
A.    Phải Có Sự Hiện Diện Của Chúa Trong Đời Sống
Phép lạ là những công việc siêu nhiên, phi thường, trái với những quy luật tự nhiên. Ngày nay, với sự hỗ trợ của những phát minh khoa học, con người cũng thực hiện được những công việc lớn lao, vĩ đại. Thế nhưng, không thể gọi những công việc đó là phép lạ. Vì phép lạ liên quan đến lĩnh vực siêu nhiên, đến thế giới thần linh, mà xuất phát điểm của mọi phép lạ là Đức Chúa Trời của chúng ta. Chúa là Đức Chúa Trời hay làm phép lạ; Ngài bày tỏ quyền năng Ngài giữa các dân (Thánh Thi 77: 14).
Do đó, điều kiện đầu tiên để phép lạ có thể xảy ra trong đời sống của mỗi chúng ta là Đấng hay làm phép lạ phải có mặt ở đó. Ngài phải được phép bước vào đời sống chúng ta và ngự ở đó, như khi xưa Ngài đã bước vào chiếc thuyền của Phi-e-rơ và ngồi dạy ở đó.
Phi-e-rơ tiếp Chúa không phải khi ông cần Chúa. Ông tiếp Chúa chỉ vì ông tôn trọng Chúa – sự tôn trọng dành cho một ông thầy, một ông thầy dạy đạo. Đồng ý là công việc làm ăn của ông vào thời điểm đó có thất bại, nhưng, việc “không bắt được chi hết” cũng không có gì lạ đối với một người đánh cá. Chuyện làm ăn mà, chim trời cá nước, có bữa này, bữa kia. Cho nên, đối với Phi-e-rơ việc “không bắt được chi hết” không phải là lý do mà ông tiếp đón Chúa lên thuyền. Ông tiếp Chúa vì muốn giúp Chúa, muốn làm ơn cho Chúa, theo kiểu: thấy ông này làm việc tốt trong khi mình có điều kiện rảnh rỗi (chiếc thuyền) thì giúp, vậy thôi.
Dầu cách Chúa bước vào đời sống mỗi một người có khác nhau, nhưng không thể nào có phép lạ nếu Chúa chưa có mặt trong đời sống của chúng ta. Chúa bước vào đời sống một người khi nào? – Khi người ấy mời Chúa bước vào đời sống của mình, thông qua việc cầu nguyện tiếp nhận Chúa. Nhiều người ngày nay muốn nhìn thấy phép lạ của Chúa nhưng lại không đáp ứng điều kiện đầu tiên này. Nếu lòng của chúng ta không có chỗ cho Chúa thì thật là khó để phép lạ của Chúa có thể xảy ra.
B.    Phải Có Lời Của Chúa Đối Với Cá Nhân Mình
Phi-e-rơ cho Chúa Giê-xu ngồi trên thuyền của ông để giảng dạy thì đương nhiên là ông cũng có nghe – không ít thì nhiều – lời của Ngài. Thế nhưng, lời dạy chung cho đoàn dân đó không phải là cơ sở để phép lạ xảy ra. Khởi đầu của phép lạ là khi Phi-e-rơ nghe Chúa bảo ông cách cá nhân: “Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá”.
Chúa Giê-xu bảo Phi-e-rơ điều này khi Ngài đã “dạy xong”. Kinh Thánh không cho chúng ta biết Phi-e-rơ làm gì khi Chúa Giê-xu đang dạy: ông lo giặt lưới hay ngồi nghe Chúa giảng. Song có một điều chúng ta biết là khi Chúa bảo: “Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá”, thì Phi-e-rơ nghe rất rõ.
Phép lạ xảy ra không nhằm biểu diễn hay thỏa mãn tính hiếu kỳ của con người chúng ta, như dân Giu-đa năm xưa đã nằng nặc đòi hỏi Chúa; Chúa làm phép lạ để xác chứng rằng, Lời của Ngài là chân thật. “Các môn đồ ra đi truyền giảng khắp nơi; Chúa cùng làm việc với họ và dùng các dấu lạ kèm theo để làm cho vững đạo” (Mac 16: 20).
Nếu thật sự Chúa bảo bạn làm một điều gì đó thì chính Chúa sẽ bảo đảm cho Lời của Ngài, vì Ngài luôn thức canh để thực hiện lời Ngài đã phán (Giê-rê-mi 1: 12).
Esai. 55: 11 Này, lời đã ra từ miệng Ta, sẽ không trở về cùng Ta vô hiệu quả, nhưng sẽ làm điều Ta đã định và hoàn thành việc Ta đã sai khiến nó.
Chúng ta nghe được Chúa phán với mình khi nào? – Khi chúng ta tập trung, để ý lắng nghe. Chúa có thể phán cách trực tiếp với chúng ta khi chúng ta cầu nguyện, khi chúng ta đọc Kinh Thánh, khi chúng ta đang chạy xe trên đường, và thậm chí khi chúng ta đang làm việc.
Dầu vậy, vấn đề không nằm ở phía Chúa mà là về phía chúng ta – chúng ta có chú ý để nghe, chúng ta có để tâm tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa hay không. Đó là lý do mà Chúa thường hay nói: “Ai có tai mà nghe, hãy nghe” là như thế. Phi-e-rơ đã nghe Chúa bảo: “Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá”, còn anh chị em có nghe được gì không?
C.    Phải Làm Theo Sự Hướng Dẫn Của Chúa
Một điều chắc chắn là phép lạ sẽ không thể xảy ra, nếu Phi-e-rơ không “chèo ra sâu và buông lưới”. Vâng, làm theo sự hướng dẫn của Chúa là điều kiện thứ ba để phép lạ xảy ra. Làm theo sự hướng dẫn của Chúa hay làm theo Lời Chúa còn được gọi là hành động bởi đức tin.
Đây là bước khó nhất, là điều kiện khó đáp ứng nhất, vì nhiều khi những gì Chúa bảo chúng ta làm đi ngược lại kinh nghiệm, nghịch lại với sự hiểu biết hay tình cảm của chúng ta. Chèo thuyền ra sâu, rồi buông lưới không phải là việc khó đối với người chuyên đánh cá như Phi-e-rơ, nhưng khó là chuyện thả lưới đánh cá giữa ban ngày, trước sự chứng kiến của cả đoàn dân đông và vô số bạn chài.
Điều gì sẽ xảy ra, một khi kéo lên mà lưới không có con cá nào? Chính vì chăm vào kết quả, tức là lo không biết kết quả sẽ thế nào mà nhiều người không dám đặt tay nhân danh Chúa Giê-xu cầu nguyện cho người bệnh, không dám nhân danh Chúa mà đuổi quỷ, không dám nhân danh Chúa mà đi ra, không dám mở miệng nói về Chúa, không dám giảng dạy, không dám dâng hiến, …
Nhiều con dân Chúa, tôi tớ Chúa hiểu biết Lời của Chúa, và không ít người có những mặc khải rõ ràng, những hướng dẫn cụ thể nhưng họ đã không dám “thả lưới”, họ đã không dám hành động. Họ không dám cầu nguyện, không dám chứng đạo, không dám dâng hiến, không dám đi thờ phượng Chúa, … vì họ sợ. Sợ ai? – Họ sợ ai thì không biết nhưng chắc chắn là họ không sợ Chúa rồi.
Châm ngôn 29: 25 Sợ loài người là một cái bẫy cho mình nhưng ai tin cậy CHÚA được an toàn
Không vâng lời Chúa hay không làm theo sự hướng dẫn của Chúa cũng đồng nghĩa là vô tín, là không có đức tin, là không tin cậy Chúa. Mà không tin cậy Chúa thì làm sao có thể nhìn thấy phép lạ trong đời sống của mình. Không có đức tin, tức là không làm theo Lời Chúa, không làm theo sự dẫn dắt của Chúa thì cũng có thể thấy được phép lạ từ Chúa, nhưng mà là phép lạ trong đời sống của người khác chớ không phải trong đời sống của cá nhân mình.
Thế thì, anh chị em ơi, những gì Chúa bảo anh chị em làm trong vai trò của một người chồng, người vợ, người cha, người mẹ, người con trong gia đình thì hãy tin cậy Chúa mà làm; những gì Chúa bảo anh chị em làm trong tư cách một tín hữu, một người hầu việc Chúa thì hãy tin cậy Chúa mà làm, dù cho việc đó ngược lại suy nghĩ, kinh nghiệm hay tình cảm của chúng ta. Chúa không bao giờ “xúi dại” chúng ta đâu. Hãy bắt chước Phi-e-rơ mà thưa với Chúa rằng: “dầu vậy, tôi cũng theo lời thầy mà thả lưới”. Hãy cho Chúa thấy đức tin của bạn đi, hãy bày tỏ đức tin của anh chị em bằng hành động cụ thể đi, anh chị em sẽ thấy những phép lạ tương tự mà Phi-e-rơ đã thấy ngay trong gia đình, ngay trong công việc, ngay trong chức vụ của anh chị em.
II.    Mục Đích Của Phép Lạ (8-11)
A.    Nhận Biết Chúa
Như ở trên đã nói, Chúa không làm phép lạ để biểu diễn hay để thỏa mãn trí tò mò hoặc đòi hỏi của chúng ta. Thực chất của phép lạ thậm chí cũng không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của con dân Chúa. Đức Chúa Trời thi thố phép lạ là để cho người ta nhận biết Ngài là Đức Chúa Trời; để người ta quay trở lại thờ phượng Ngài. (Xem thêm: 1Vua. 18: 36-37).
Chúa nhận lời cầu xin của Ê-li để cho dân Y-sơ-ra-ên nhận biết Ngài là Đức Chúa Trời và khiến lòng họ trở lại thờ phượng Ngài thay vì thờ phượng Ba-anh. Chúa Giê-xu làm phép lạ tại hồ Ghê-nê-sa-rết để Simon Phi-e-rơ nhận biết Ngài là Chúa chớ không phải chỉ đơn thuần là một ông Thầy, một Ra-bi của Do Thái giáo.
Hãy nhớ lại mỗi một lần, Chúa Giê-xu làm phép lạ thì những môn đồ của Chúa đều kinh ngạc thốt lên: “người này là ai ?”; Kinh Thánh mô tả rằng, Chúa Giê-xu làm phép lạ để các môn đồ của Ngài tin (Giăng 2: 11; 11: 15). Rồi sau khi sống lại, Chúa Giê-xu cũng làm phép lạ lưới được một mẽ cá lớn tương tự như phép lạ ở đoạn Kinh Thánh này (Giăng 21: 4-7). Khi thấy điều đó, một môn đồ bảo Phi-e-rơ: “Ấy là Chúa !”
Vâng. Phép lạ từ Chúa là nhằm mục đích giúp cho chúng ta nhận biết Ngài. Ngày hôm nay Chúa vẫn tuân giữ nguyên tắc đó. Chúa không làm phép lạ chỉ để đáp ứng nhu cầu của bạn thôi đâu, Chúa làm phép lạ là để minh chứng rằng, Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Toàn Năng. Có thể lòng tôi con Chúa đã lìa xa Chủ của mình, Chúa sẽ tỉnh thức chúng ta qua các dấu kỳ, phép lạ; Có thể chúng ta không còn tin cậy Chúa, không còn tôn Giê-xu làm Chúa trong đời sống của mình, Chúa sẽ tỉnh thức chúng ta qua các dấu kỳ, phép lạ. Bởi vì một trong những mục đích mà Chúa làm phép lạ là để cho chúng ta nhận biết Ngài là Đức Chúa Trời và quay trở lại thờ phượng và tôn cao Ngài.
B.    Nhận Biết Chính Mình
Khi nhìn thấy hai thuyền đầy ắp cá, Phi-e-rơ không chỉ nhận biết rằng, Giê-xu là Chúa mà còn nhận ra rằng, mình là kẻ có tội. Nói cách khác, khi nhận biết Chúa, ông thấy mình thật sự không ra gì; ông không ngượng ngùng, xấu hổ mà xưng nhận rằng mình là kẻ có tội. Trước khi chưa nhận biết Giê-xu là Chúa, ông cũng tiếp Ngài nhưng không cảm thấy mặc cảm gì. Thậm chí, như đã phân tích ở trên, ông tiếp Chúa theo kiểu làm ơn cho Chúa, theo kiểu Chúa cần thì tôi giúp. Thế nhưng sau khi nhận ra Giê-xu là Chúa thì ông bổng cảm thấy rằng, mình không xứng đáng được tiếp Chúa. Ông không chỉ nhận ra rằng, những gì mình nghĩ về Chúa Giê-xu trước đến giờ là sai, mà còn thấy mình ô uế quá, tội lỗi quá, kiêu ngạo quá, nhơ nhớp quá, không xứng đáng để ở cùng Chúa.
Một khi phép lạ thật sự đến từ nơi Chúa, chúng ta sẽ thấy mình thật bé nhỏ, thật không xứng đáng để được điều đó. Một khi phép lạ xảy ra, sự chữa lành chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy rằng thật mình chẳng làm điều gì lớn lao để được nó cả. Một khi phép lạ xảy ra, lòng chúng ta cần phải được hạ xuống. Bởi vì nếu thực tâm thì chúng ta sẽ thấy rõ ràng rằng ấy chẳng bởi công sức hay tài trí của mình mà bèn là bởi Chúa hay như chúng ta thường nghe nói là bởi ân điển của Ngài.
Một sự tiếp trợ siêu nhiên xảy ra, một sự giải cứu vừa hoàn tất, phải chăng ấy là do chúng ta cầu nguyện nhiều hay thực hiện đúng “quy trình”? Cần nhớ rằng, làm theo Lời Chúa hay hành động bởi đức tin là cần thiết nhưng đức tin của chúng ta không sản sinh ra phép lạ. Đức tin của chúng ta chỉ là phương tiện để nhận phép lạ, còn phép lạ được làm ra bởi chính Đức Chúa Trời chúng ta chớ không phải do đức tin của chúng ta.
C.    Nhận Biết Mục Đích Cuộc Đời: Trở Nên Người Phục Vụ Chúa
Mục đích của những phép lạ từ Đức Chúa Trời không chỉ dừng lại ở chỗ khiến người ta nhận biết Chúa và nhận biết chính mình, mà mục đích của phép lạ từ Đức Chúa Trời còn giúp cho người ta nhận biết được mục đích thật của cuộc đời họ: trở nên người phục vụ Chúa.
Phép lạ đánh cá siêu nhiên này được tỏ ra để thuyết phục Phi-e-rơ cho một mục đích cao cả hơn: tay đánh lưới người. Nếu Chúa có thể “lùa” cá trong biển vào trong lưới của Phi-e-rơ giữa ban ngày thế này khi ông vâng lời Chúa, thì sự thành công trong công việc mới – lưới người – với Đức Chúa Trời thì nào khó khăn chi.
Kinh Thánh ký thuật rằng, Phi-e-rơ cùng đồng bạn “đem thuyền vào bờ, bỏ tất cả mà đi theo Ngài”. Trúng đậm như thế nhưng Phi-e-rơ không ở nhà hưởng thụ rồi tiếp tục mời Chúa Giê-xu vào thuyền để mách bảo cho những lần kế tiếp mà ông lại bỏ tất cả đi theo Ngài. Điểm đặc biệt là ở đó.
Phép lạ thật sẽ khiến cho người nhận được phép lạ tập chú vào Đấng làm phép lạ thay vì nhìn vào phép lạ. Phép lạ thật sẽ khiến cho người ta dễ dàng “bỏ mọi sự mà theo Chúa”, khiến người ta sẵn sàng dấn thân phục vụ Chúa.
Anh chị em ơi, nếu phép lạ thật không nhằm thỏa mãn nhu cầu hay kỳ vọng của chúng ta; Nếu phép lạ thật chỉ khiến cho người ta nhận biết Chúa là Đức Chúa Trời và làm cho lòng họ trở lại cùng Đức Chúa Trời; Và nếu phép lạ thật chỉ đem người ta đến chỗ dấn thân phục vụ Chúa thì bao nhiêu người trong chúng ta còn tìm cầu phép lạ từ nơi Đức Chúa Trời Toàn Năng?
Kinh Thánh dạy rằng, Chúa của chúng ta là Đức Chúa Trời hay làm phép lạ. Ngày hôm nay, Chúa vẫn còn làm phép lạ. Để phép lạ thật từ nơi Đức Chúa Trời có thể xảy ra trong đời sống của một người, thì trước hết, Chúa cần phải có chỗ trong tấm lòng của người ấy. Người cần phải nghe được Lời Chúa cho chính cá nhân của mình và đơn sơ làm theo Lời đó. Phép lạ chắc chắn sẽ xảy ra, vì Chúa luôn luôn tỉnh thức để làm trọn lời Ngài đã phán.
MSB

KẾT QUẢ LỜI CẦU NGUYỆN


Cầu nguyện là một sinh hoạt thường ngày của người tin Chúa; cầu nguyện còn được ví sánh như là sự thở – không ai có thể sống mà không thở. Có thể nói, ai cũng biết cầu nguyện nhưng không phải ai cũng cầu nguyện. Ai cũng biết cầu nguyện nhưng không phải ai cũng biết đâu là kết quả của một lời cầu nguyện dâng lên cho Đức Chúa Trời. Kinh thánh Giê-rê-mi 33: 3 cho chúng ta biết những kết quả đó. Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết. Câu Kinh Thánh này còn là lời mời gọi của Đức Chúa Trời Toàn năng dành cho mỗi một chúng ta.
I.      Hãy Kêu Cầu Ta
Khi nào thì người ta kêu? – Khi buồn, khi khổ người ta kêu; khi vui, khi sướng người ta kêu; khi đau ốm, lúc nhọc nhằn hay khi thành đạt người ta cũng kêu. Gia-cơ khuyên rằng, Trong anh em có ai chịu khổ chăng? Người ấy hãy cầu nguyện. Có ai vui mừng chăng? hãy hát ngợi khen. Trong anh em có ai đau ốm chăng? Hãy mời các trưởng lão Hội thánh đến …” (Gia-cơ 5: 13-14). Như vậy, bất cứ lúc nào người ta cũng kêu được. Hay nói cách khác, “kêu” là chuyện tự nhiên, chuyện thường ngày tự cổ chí kim, từ đông sang tây, của con người sống trên nhân thế.
Nếu “kêu” là chuyện tự nhiên của mọi người thì tại sao Chúa lại bảo rằng, “hãy kêu cầu Chúa”? – Có thể lắm, họ vẫn còn kêu cầu nhưng không phải là cùng Chúa mà là với con người, với tổ chức, … Giống như dân Y-sơ-ra-ên năm xưa, khi bị quan quân Ai-cập đuổi theo đến tận Biển Đỏ, đã kêu la với Chúa và oán trách Môi-se là người lãnh đạo của mình (Xuất Hành. 14: 10-12).
Thế thì, anh chị em ơi, vấn đề không nằm ở chỗ anh chị em có còn cầu, còn khẩn hay không; có còn công khai trình bày nan đề của mình hay không, mà là anh chị em  đang bình bày điều đó với ai?
Anh chị em đang kêu rêu, oán trách lãnh đạo, người thân trong gia đình, đồng nghiệp trong cơ quan về những nan đề mình phải chịu hay anh chị em đang hướng lòng về Chúa để tìm câu trả lời?
Nhưng tại sao phải nhất định là kêu cầu cùng CHÚA, người ta há chẳng nói rằng: “Có bệnh thì phải vái tứ phương” đó sao? – Vâng, chúng ta muốn kêu cùng ai cũng được, nhưng nếu muốn chắc chắn nhận được điều mình “kêu” thì chỉ có kêu cầu cùng Đức Chúa Trời của Cơ-đốc giáo mà thôi.
Tại sao? – Ấy là tại vì con người luôn bất toàn, nên dù là ai, cũng thường gặp phải cảnh “lực bất tòng tâm” hay “cái khó bó cái khôn”, còn Chúa, và duy chỉ có Ngài, là Đấng Toàn Năng, tức là việc chi Chúa làm cũng được (Luca 1: 37); kể cả việc ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi (Roma 4: 17).
Phải chăng anh chị em  đang đối diện với bệnh tật, khó nghèo, với nan đề, hay sự bắt bớ, …, thì hãy chạy đến với Chúa vì chính Ngài đang mời gọi anh chị em rằng, “hãy kêu cầu Ta”
II.    Ta Sẽ Trả Lời Cho; Ta Sẽ Tỏ Cho Ngươi Những Việc Lớn Và Khó, Là Những Việc Ngươi Chưa Từng Biết
Khi Chúa bảo: “Ta sẽ trả lời cho” thì điều đó có nghĩa gì? – Đó là sự bảo đảm, đó là sự chắc chắn.
Người Việt ta mỗi dịp lễ Tết thường hay đổ xô đi cầu, đi cúng nhưng nếu hỏi ai đó rằng “có chắc sẽ được những điều mình cầu, mình khấn không?” thì câu trả lời sẽ là: “Hên xui!”, tức là không ai dám chắc. Ấy vậy mà, Đức Chúa Trời thì khẳng định chắc nịch rằng, “nếu ngươi kêu cầu thì Ta sẽ trả lời cho”.
Ngài không chỉ hứa như vậy đối với dân Y-sơ-ra-ên trong Cựu ước, mà Ngài còn tái xác quyết điều này với chúng ta trong Tân ước khi phán: Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho (Mathiơ 7: 7). Tại sao Chúa luôn xác quyết như thế? – Vì Ngài là Đức Chúa Trời thành tín, nên điều chi Chúa đã hứa, thì Ngài cũng có quyền làm cho trọn (Roma 4: 21)
Anh chị em ơi, hãy dạn dĩ mà đến cùng Chúa; hãy trình dâng những nhu cầu, những nan đề của mình cho Chúa, vì Ngài bảo đảm rằng nếu anh chị em kêu cầu thì Ngài sẽ trả lời, nếu anh chị em xin thì sẽ được, anh chị em tìm thì sẽ gặp và nếu anh chị em thì cửa Trời sẽ mở ra cho. Hallelugia.
Thế nhưng, không chỉ trả lời mà Chúa còn hứa là sẽ ban cho những người kêu cầu “những việc lớn và khó, là những việc mà họ chưa từng biết” nữa kia. “Lớn và khó” là với chúng ta chớ không phải là với Chúa. Bởi vì, Kinh Thánh dạy rằng có gì là khó quá cho Chúa đâu (Giê-rê-mi 32: 17, 27). Vậy thì, nhu cầu mà anh chị em trình dâng, dù to lớn, phức tạp, đắt giá cỡ nào, cũng không vượt quá khả năng giải quyết, vượt quá khả năng đáp ứng của Chúa đâu.
Một điều cần làm sáng tỏ trong lời hứa này của Chúa nằm ở cụm từ: “những việc ngươi chưa từng biết”. Nếu có những việc mà thực sự ta chưa từng biết thì làm sao ta có thể xin? Làm sao ta có thể xin Chúa một vật gì đấy mà mình chưa hề biết vật đó “mặt mũi” ra sao. Còn nếu ta không xin mà Chúa vẫn cho thì liệu có “vi phạm nhân quyền” của chúng ta không, bởi vì trong trường hợp này là ‘xin một nơi, mà cho một nẽo’.
Không, không hề có chuyện như thế. “Việc mà chúng ta chưa từng biết” ở đây nên được hiểu là những việc ta chưa từng hay chính xác hơn là chưa dám nghĩ đến, hay nói cách văn chương là “em nào dám mơ, dám mộng gì đâu”! “Việc mà các ngươi chưa từng biết” là những việc “trỗi hơn vô cùng những điều chúng ta cầu xin và suy tưởng” (Epheso 3: 20) khi trình dâng nhu cần của mình cho Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện.
Đó là sự làm cho đứa con gái của Giai-ru hay anh trai của chị em Ma-thê sống lại thay vì sự chữa lành; đó là một Giăng Báp-tít, người mở đường cho Chúa Cứu thế thay vì chỉ là một đứa con trai nối dõi theo ước nguyện của đôi vợ chồng tư tế già Xa-cha-ri; là một tiên tri Sa-mu-ên lỗi lạc cho cả quốc gia Y-sơ-ra-ên thời kỳ tiền quân chủ thay vì chỉ là một đứa con trai cất đi sự sỉ nhục cho người mẹ son sẽ An-ne!
Đó là lời hứa chắc chắn cho những ai kêu cầu cùng Đức Chúa Trời của Cơ-đốc giáo. Hàng ngàn năm đã trôi qua, mọi sự luôn thay đổi. Song Đức Chúa Trời của chúng ta không hề thay đổi. Hôm qua, hôm nay và mãi muôn đời Chúa vẫn y nguyên (Hê-bơ-rơ 13: 8). Ngài không hề thay đổi, nên những gì Ngài hứa vẫn còn nguyên giá trị.
Ngài đã hứa gì? – Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết.
Bạn còn chờ gì nữa mà không chạy đến với Ngài để “nếm thử xem Đức Giê-hô-va tốt lành dường bao”?
MSB

CON ĐƯỜNG MANG TÊN CA-IN


Người ta thường nói “đường đời trăm vạn nẽo”, tức là có rất nhiều con đường trong đời đưa ta về phía trước và mỗi con đường đều có tên gọi của nó. Song không phải con đường nào cũng đưa chúng ta đến bến bình an. “Con đường bạn chọn dường như thích hợp, nhưng cuối nẽo đường là hố diệt vong” (Châm ngôn 16: 25 – BDY). Thật bất hạnh thay cho những ai lạc bước trên những con đường như thế. Và một trong những con đường thuộc loại này có tên gọi là Đường Ca-in. Chúng ta cùng xem với nhau Sáng Thế Ký 4: 1-24, để khám phá những đặc điểm của con đường sai trật này.
I.      Con Đường Mang Tên Ca-in Là Con Đường Thiếu Vắng Đức Tin.
Chúa đoái xem (chiếu cố) đến A-bên và sinh tế của người cách nào, Kinh Thánh không cho chúng ta biết. Có thể bằng lửa. Nhưng tại sao Đức Chúa Trời lại không nhận tế lễ của Ca-in? – Phải chăng vì Ca-in không dâng sinh tế (của lễ bằng con thú), tức là không có sự đổ huyết nên Đức Chúa Trời không chấp nhận.
Lập luận này thoạt nghe có vẽ đúng, nhưng nếu như thế thì ta phải lý giải làm sao cho thỏa đáng những gì Chúa phán truyền trong những phần Kinh Thánh khác về tế lễ.
Hê-bơ-rơ 9: 22 Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ. Như vậy, không phải tất cả mọi vật mà là hầu hết.
Lê-vi ký 5: 11-13 người vì tội mình đã phạm, phải đem một phần mười ê-pha bột lọc làm của lễ chuộc tội, không nên đổ dầu trên và cũng không nên thêm nhũ hương, vì là một của lễ chuộc tội. Người sẽ đem bột đó đến thầy tế lễ; thầy tế lễ sẽ bốc một nắm làm kỷ niệm, và xông trên bàn thờ như cách xông của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va: ấy là một của lễ chuộc tội. Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ vì người đó làm lễ chuộc tội người đã phạm về một trong mấy điều nầyHãy coi câu 1 đến câu 4 trong đoạn nầy , thì tội người sẽ được tha; …”
Rõ ràng là thổ sản vẫn có thể được dùng làm tế lễ. Mặt khác, Kinh Thánh không nói rằng, anh em Ca-in trong trường hợp này là dâng của lễ chuộc tội. Dầu vậy, nếu là tế lễ chuộc tội đi nữa thì theo Lê-vi ký 5: 13, tội của Ca-in phải được tha. Và như thế, có nghĩa là tế lễ của người trai trẻ này phải được chấp nhận.
Thế nhưng, trên thực tế thì tế lễ của Ca-in đã không được Chúa chấp nhận. Tại sao? – Chúng ta có thể tìm được câu trả lời trong những câu Kinh Thánh sau đây: 1 Giăng 3: 12 (đối chiếu với Sáng thế ký 4: 6-7); Hê-bơ-rơ 11: 4-6 và Roma 4: 23b.
Sáng thế ký 4: 3-4 cho chúng ta biết rằng, A-bên dâng chiên đầu lòng cùng mỡ - tức là những gì tốt nhất của mình, trong khi Ca-in chỉ dâng cho Đức Chúa Trời thổ sản bình thường, chớ không phải hoa quả đầu mùa, tức không phải những gì tốt nhất.
Như vậy, không phải tế lễ của Ca-in (hoa quả) khiến Đức Chúa Trời không chấp nhận mà là thái độ của người đã khiến Chúa không đẹp lòng.
1 Samuen 15: 22 Sa-mu-ên nói: “Đức Giê-hô-va có vui thích về tế lễ thiêu và các sinh tế, bằng sự vâng theo tiếng phán của Ngài chăng? Kìa, sự vâng lời tốt hơn sinh tế, Sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực
Thế thì không phải tất cả những gì chúng ta làm cho Chúa là nghiễm nhiên được đẹp lòng Ngài đâu, mà là thái độ của chúng ta khi làm việc đó sẽ quyết định chúng ta có được đẹp lòng Ngài hay không.
Ca-in đã làm gì? – Dâng hiến cho Đức Chúa Trời. Dâng hiến là việc tốt nhưng người thanh niên này bị quở trách là vì dâng hiến mà không tin cậy, dâng hiến mà coi thường Chúa, dâng hiến mà lòng không thành.
Như vậy con đường mang tên Ca-in, trước hết, là dâng hiến cho Chúa (thì giờ, sức lực, tiền bạc, …) mà coi thường Chúa; là làm công việc Chúa mà không bởi một động cơ tôn thờ Ngài. Con đường mang tên Ca-in là con đường vô tín, không vâng lời Đức Chúa Trời. Đó là con đường mà Giu-đe 11 đã cảnh báo: “Khốn cho kẻ nào bước đi trên đó !”
II.    Con Đường Mang Tên Ca-in Là Con Đường Nhuộm Máu Ân Tình
Một khi tế lễ không được chấp nhận, Ca-in đã làm gì? – Thay vì suy gẫm, tra xét vì sao kết cuộc lại như vậy thì người thanh niên này lại đi giận Chúa, thậm chí là rất giận Ngài.
Không dừng lại ở đó, Ca-in đã để cho những cảm xúc của mình – giận dữ vì bị từ chối – thắng hơn lời cảnh báo của Đức Chúa Trời. Kết cuộc là người giết chết em ruột của mình, tức là chuyển đối tượng của cơn giận từ chỗ đối với Chúa sang chỗ đối với con người.
Thay vì nhìn thấy nguyên nhân bị từ chối, thất bại nằm ở chính mình, thì Ca-in lại nhìn thấy nó nằm ở người khác. Thay vì canh giữ, kiểm soát cẩn thận tấm lòng của mình đối với tội lỗi, thì Ca-in lại tiếp tay với tội lỗi. Đó là lý do tại sao Ca-in giết chết em ruột của mình.
Như vậy, vụ giết người đầu tiên trong lịch sử nhân loại xảy ra không bởi sự khác nhau về nghề nghiệp hay vị trí xã hội mà là bởi sự khác nhau trong thái độ của người ta đối với Đức Chúa Trời. Do đó, khi mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời bị gãy đổ sẽ dẫn đến sự gãy đổ trong mối quan hệ của chúng ta với những người khác.
Anh chị em yêu dấu ơi, mối quan hệ của anh chị em với Đức Chúa Trời có còn nguyên vẹn không ? Anh chị em có còn dành sự tôn trọng thật sự cho Chúa không? Và anh chị em có còn tin cậy Ngài nữa không? – Nếu câu trả lời là không, thì anh chị em đang gieo rắc sự chết cho những người thân của mình biết là dường nào!
Như vậy, con đường mang tên Ca-in là con đường của sự ganh ghét anh em mình, con đường của sự thù hận, cay đắng. Người đi trên con đường này, mỗi ngày phạm tội giết người mà có thể không hề hay biết, vì Kinh Thánh phán tỏ tường rằng, “… Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết. Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình (1 Giăng 3: 14-15).
III.   Con Đường Mang Tên Ca-in Là Con Đường Không Có Bình Minh
Khi đã giết em mình, Ca-in phải nhận lấy hình phạt: bị đuổi xa khỏi Chúa hay nói cách khác, là ra khỏi sự hiện diện, sự bảo vệ của Chúa. Một đời sống không có sự bình an, luôn bị nỗi sợ hãi bị trả thù vây phủ.
Con cháu Ca-in, con cháu bị hình phạt lại gia tăng bội phần, đạt được những thành tựu rực rỡ về âm nhạc, kinh tế, luyện kim, … Dường như, họ đang được phước chớ không phải bị rủa sả.
Thật ra, đó không phải là phước mà là tai họa. Họ đang trượt dài trong tội lỗi (đa thê, giết người càng hơn, …)
Mỉa mai thay, sự văn minh của nhân loại, sự thành đạt và những thú vui của đời – là những điều mà nhiều tôi con Chúa ngày hôm nay đang miệt mài tìm kiếm – lại bắt nguồn từ một sự rủa sả.
Do đó, hỡi anh chị em, là những người tin Chúa chúng ta đừng nên ghen tị với sự thành đạt của những người vô tín, những người xa rời Chúa và đừng đi chung trên con đường mang tên Ca-in với họ. Vì trên con đường này sẽ chẳng có ánh bình minh đâu.
1Giăng 2: 15-17 Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy. Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra. Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời
Như vậy, có một con đường dường như chánh đáng cho loài người, con đường đó có tên là Ca-in. Con đường Ca-in là con đường vô tín, làm công việc của Đức Chúa Trời nhưng không tin cậy Đức Chúa Trời, dâng hiến, hy sinh cho Đức Chúa Trời nhưng không tôn trọng Đức Chúa Trời; Người đi trên con đường Ca-in luôn bị thôi thúc bởi sự ganh ghét, tranh cạnh, thù hằn với anh em đồng đạo, thậm chí với những người thân, mà theo như Kinh Thánh thì họ đang phạm tội giết người; Những kẻ đi trên con đường Ca-in, dù là ai, cũng luôn bị vây phủ bởi sự sợ hãi, bất an vì đã bị lìa xa Chúa và không còn ở trong sự bảo vệ của Ngài. Kinh Thánh khẳng định rằng, kết cuộc của con đường này là “nẽo diệt vong”.
Nếu bạn đang đi trên một con đường có những đặc điểm như thế thì hãy nhanh chóng ra khỏi đó, nếu không muốn bị diệt vong. Vẫn còn cơ hội cho mỗi một chúng ta thay đổi lộ trình, vì Chúa Giê-xu vẫn còn chưa trở lại. Bạn và tôi cần phải tự hỏi chính mình: trên con đường nào tôi đang bước chân đi?
MSB
(Bài giảng của Ms Barnabas tại Vietnames Community Center, Multia Damansara, Chúa nhật, 24/2/2013)