Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

QUẢN LÝ TÀI CHÁNH BỞI ĐỨC TIN

Đức Tin Trong Lĩnh Vực Tài Chính
Thêm một lĩnh vực nữa trong đời sống thường nhật, mà chúng ta cần thực hành đức tin. Đó là lĩnh vực tài chánh và chu cấp nhu cầu vật chất. Trong Kinh Thánh đầy dẫy những trường hợp và cam kết của Đức Chúa Trời về khả năng cung ứng của Ngài cho những nhu cầu của con dân Chúa, thậm chí trong những nơi chốn không người ở hoặc nguồn tiếp trợ tự nhiên. Không một nơi nào trong Kinh Thánh đề cập đến điều này cách mạnh mẽ như trong II Corinhto 9: 8 “Đức Chúa Trời có đủ khả năng khiến cho anh chị em được giàu có, dư dật mọi thứ ơn, hầu cho anh em trong mọi lúc, và trong mọi lĩnh vực có đầy đủ mọi nhu cầu, lại còn có dư dật nữa để làm mọi thứ việc lành”. Thật có ý nghĩa khi xem xét câu này cách chi thiết hơn. Câu Kinh Thánh này được dịch sát theo nguyên văn trong tiếng Hy-lạp. Theo đó, từ “dư dật” – hoặc giàu có hay phong phú – được sử dụng 2 lần trong câu, còn từ “mọi” hay tất cả thì có đến 5 lần. Những từ này diễn tả cách đầy biểu cảm tài nguyên vô tận của Đức Chúa Trời trong việc phủ lấp mọi nhu cầu của con dân Ngài. Mức độ chu cấp – không chỉ đơn thuần là “đầy đủ” mà là “dư dật”.
Trên thực tế, người ta có thể sống ở ba mức độ chu cấp khác nhau: thiếu, đủ và dư. Chúng ta có thể diễn tả điều này bằng một ví dụ thường thấy trong đời sống thường nhật: mua hàng. Để đủ tiền đi một buổi chợ cần có 150 nghìn đồng, song một người nội trợ nọ chỉ có 100 nghìn, thì bà ấy đang thiếu. Người kia có 150 nghìn thì là đủ; và một người nội trợ khác có đến 200 nghìn, thì người ấy đang .
Chúng ta đã đưa ra một ví dụ rất đơn giản về người nội trợ đi chợ. Thế nhưng, cần nhớ rằng, sự giàu có và dư dật không phải lúc nào cũng nói về tiền bạc và của cải vật chất. Sự dư dật đơn giản là Chúa ban cho chúng ta mọi điều chúng ta cần, và những gì chúng ta có thể chia sẻ cho người khác. Minh họa đầy đủ nhất cho sự dư dật kiểu này chúng ta có thể nhìn thấy nơi chính Chúa Giê-xu. Ngài không có nhà riêng, không có của cải vật chất, không có nhiều tiền bạc – mặc dù Giu-đa, một trong các môn đệ của Ngài, có giữ túi tiền mà người ta dâng hiến (Giăng 12: 6; 13: 29). Thế nhưng, cả Chúa Giê-xu lẫn những kẻ theo Ngài không bao giờ gặp thiếu thốn.
Khi Phê-rơ cần tiền gấp để đóng thuế, Chúa Giê-xu thay vì sai Phê-rơ đến với Giu-đa, thì lại bảo ông ra biển hồ Galile, lấy tiền nơi miệng một con cá (Mathiơ 17: 24-27). Một câu hỏi thú vị nảy sinh: điều nào dễ hơn – đến ngân hàng rút tiền hay ra biển thả câu? Dĩ nhiên, phương án hai hấp dẫn hơn nhiều!
Hãy nhớ lại thể nào đoàn dân đang đói vây quanh Chúa Giê-xu (khoảng 12 ngàn người – Giăng 6: 5-13), rồi Ngài cầm lấy 5 ổ bánh mì và 2 con cá của một cậu bé mà cảm tạ Đức Chúa Cha, và kết quả là Ngài đã chu cấp cho cả đoàn dân đông đảo này, và còn thu lại được 12 giỏ đầy từ những phần còn thừa lại. Đó là sự dư dật! Và phép lạ này cũng là một minh chứng đầy thuyết phục về hiệu quả siêu nhiên của lời cảm tạ – lời cảm tạ bởi đức tin dâng lên Đức Chúa Trời về thức ăn!
Về sau, Chúa Giê-xu cấm các môn đồ mang theo vật dụng, tiền bạc, khi sai họ đi ra rao giảng (Luca 9: 1-3; 10: 1-4). Rồi đến trước khi kết thúc chức vụ của mình trên đất, Ngài nhắc lại chuyện đó và hỏi họ rằng, họ có thiếu gì không. Thì họ trả lời: “Không thiếu chi hết” (Luca 22: 35). Đó là sự dư dật!
Một số người trong các bạn có thể phản ứng: “Nhưng đó là Chúa Giê-xu! Làm sao chúng ta có thể làm giống như Ngài được?” Song chính về điều đó mà Chúa Giê-xu đã nói: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm …” (Giăng 14: 12). Cũng một kiểu như thế, sứ đồ Giăng, người đã chứng kiến mọi điều mà Chúa Giê-xu đã làm, bảo rằng: “Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm” (1Giăng 2: 6). Chúa Giê-xu đã để lại cho chúng ta một gương mẫu bước đi trong đức tin.
Nếu chúng ta vẫn còn chưa tiếp nhận lời mời gọi này thì có lẽ là do chúng ta chưa hiểu hết phạm vi của ân điển Đức Chúa Trời. Trong II Corinhto 9: 8 thì ơn hay “ân điển” là từ chìa khóa. “Đức Chúa Trời có đủ khả năng khiến cho anh chị em được giàu có, dư dật mọi thứ ơn …”. Ân điển của Đức Chúa Trời là nguồn tiếp trợ hay cung ứng của chúng ta, chớ không phải sự khôn ngoan hay khả năng của chính chúng ta. Do đó, để có thể sử dụng ân điển Chúa cho, chúng ta cần hiểu biết hai nguyên tắc vận hành căn bản của nó.
Nguyên tắc thứ nhất được thể hiện trong Giăng 1: 17 Vì luật pháp được ban hành bởi Môi-se, còn ân điển và lẽ thật thì bởi Giê-xu Christ mà đến”. Ân điển chỉ có một kênh dẫn duy nhất – Chúa Giê-xu Christ. Không thể nhận được nó bằng việc tuân giữ những qui định của luật pháp hay của đạo giáo nào đó, bèn là chỉ duy nhất qua Đấng Christ mà thôi.
Nguyên tắc thứ hai được thể hiện trong Epheso 2: 8-9 “Thật vậy, nhờ ân sủng, bởi đức tin mà anh chị em được cứu rỗi, … cũng không phải do công đức anh chị em làm, để không ai có thể khoe mình”. Ân điển vượt trội nhiều lần hơn những gì mà chúng ta có thể đạt được hay đáng được vào một lúc nào đó bằng khả năng tự nhiên của chính mình. Do đó, cách duy nhất, mà nhờ đó chúng ta có thể sử dụng ân điển Chúa cho, chính là đức tin. Nếu bằng lòng với những gì mình đáng được hoặc có thể đạt được, thì chúng ta không khi nào có thể tận hưởng được ân điển của Chúa cách trọn vẹn.
Vậy thì làm thế nào để những nguyên tắc này vận hành được trong lĩnh vực tài chánh? Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ rằng, Đức Chúa Trời không bao giờ ban phước cho những người gian dối, lười nhác và vô trách nhiệm trong lĩnh vực tài chánh. Trong Châm ngôn 10: 4, chúng ta thấy: “Cánh tay lười biếng gây nên nghèo khổ, nhưng bàn tay siêng năng làm cho giàu có”. Còn trong Epheso 4: 28 thì Phao-lô khuyên dạy: “Kẻ quen trộm cắp, đừng trộm cắp nữa, nhưng hãy siêng năng tự tay mình làm ăn lương thiện để có thể giúp người túng thiếu”. Chúa mong đợi chúng ta, theo khả năng của mình, hãy làm việc cách trung thực để không chỉ nuôi mình, mà còn có điều kiện để giúp những người túng thiếu nữa. Phao-lô còn phản ánh tư tưởng này cách mạnh mẽ hơn nữa trong 2Tesalonica 3: 10 “… Nếu ai không muốn làm việc thì cũng đừng ăn”. Đức Chúa Trời sẽ không rải ân điển của Ngài trước mặt kẻ bất lương và người biếng nhác đâu.
Tuy nhiên, có thể, dù đã làm tất cả những gì có thể cách trung thực, với lương tâm ngay thật nhưng chúng ta vẫn cứ thiếu trước hụt sau trong việc chu cấp cho cá nhân và gia đình của mình. Ta có cần phải cho rằng, đó là ý Chúa không? Ngược lại, chúng ta có thể hướng đức tin của mình vào Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu Christ và tin cậy Ngài, ngõ hầu Ngài nâng chúng ta – theo sự khôn ngoan của Ngài – lên mức độ mà các nhu cầu của chúng ta được đáp ứng, là mức độ mà chúng ta không thể nào có được bằng chính sự khôn ngoan hay bằng khả năng của mình.
Nhu Cầu Của Chúng Ta Và Các Mối Quan Hệ Của Chúng Ta Liên Quan Với Nhau
Trước khi kết thúc vấn đề, thể nào Đức Chúa Trời đáp ứng những nhu cầu của chúng ta, chúng ta cần phải lưu ý một nguyên tắc quan trọng khác: Đức Chúa Trời nhìn xem chúng ta trong một thể thống nhất, khi chăm sóc chúng ta. Ngài không xem chúng ta theo từng cá nhân riêng biệt, mà là những chi thể của một Thân Thể thống nhất, gắn bó chung thủy với nhau bằng những khớp nối chặc chẽ. Trong Epheso 4: 15-16, khi giới thiệu Đấng Christ như là Đầu của Thân Thể, Phao-lô mô tả, thể nào Đức Chúa Trời phân định trước chức năng cho Thân Thể này:
Từ đầu đó toàn thân được gắn liền và nối kết với nhau bằng những cơ cốt gân mạch, nhờ đó mỗi bộ phận được trang bị để hoạt động theo chức năng của mình, khiến cho thân thể được tăng trưởng và tự gây dựng trong tình yêu thương.
Phao-lô nhấn mạnh ở đây tầm quan trọng của những gân mạch với hai chức năng. Thứ nhất, chúng gắn kết Thân Thể, và thứ hai, chúng là kênh dẫn cho sự cung ứng. “Những gân mạch” là mối liên kết qua lại giữa các chi thể khác nhau. Nếu chúng ở trong tình trạng ổn định, thì Đức Chúa Trời chu cấp cho mọi chi thể của Thân, không một chi thể nào phải thiếu thốn. Nhưng nếu những gân mạch này trục trặc, tức là các chi thể không có được mối quan hệ đúng đắn với nhau, thì cá nhân mỗi chi thể trong Thân Thể Đấng Christ có thể sẽ gặp thiếu thốn. Điều này xảy ra, không phải vì Đức Chúa Trời không có khả năng chu cấp, mà là vì những động cơ và mối quan hệ sai trật của chúng ta đã ngăn cản nguồn tài nguyên của Ngài đến được với những người đang  có nhu cầu.
Trong thời Cựu Ước, khi đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, Đức Chúa Trời đã dạy cho họ nguyên tắc này bằng một cách hết sức thực tế. Hai hoặc ba triệu người trong sa mạc mà không có một nguồn dự trữ lương thực thông thường nào cả. Mỗi ngày, Chúa đáp ứng nhu cầu của họ bằng việc ban cho ma-na. Dân Y-sơ-ra-ên phải hoàn tất việc nhặt ma-na trước khi mặt trời mọc, vì cớ ma-na sẽ tan chảy khi xuất hiện những tia nắng mặt trời đầu tiên. “Ô-me” là định lượng cần có cho mỗi người Y-sơ-ra-ên. Tuy vậy, có người đã nhặt được nhiều hơn một ô-me, trong khi đó có người thì nhặt ít hơn. Thế nhưng, khi họ chia sẻ với nhau thì điều lạ lùng đã xảy ra là mỗi một người đều nhận được vừa đúng với số mình cần – một ô-me! (Xuất Hành 16: 14-18). Song, nếu như họ không chia sẻ với nhau, thì chắc chắn sẽ có ai đó không đủ định lượng. Rõ ràng rằng, Đức Chúa Trời có thể khiến cho mỗi người nhặt vừa đúng định lượng cho mình, nhưng Ngài đã làm khác đi, vì cớ Chúa muốn cho dân sự Ngài học biết cách sống có trách nhiệm với nhau.
Nguyên tắc này cũng trãi rộng khắp thời Tân Ước. Trong 2 Corinhto 8, Phao-lô đã đề cập đến cuộc lạc quyên đặc biệt mà ông đã tiến hành tại các Hội Thánh thuộc vùng Macedonia và A-chai, nhằm giúp đỡ những thánh đồ gốc Do-thái tại xứ Giu-đê đang gặp cơn đói kém. Ông giải thích cho những tín hữu tại Cô-rinh-tô rằng, Đức Chúa Trời quan tâm cách bình đẳng đến mọi chi thể khác nhau trong Thân Đấng Christ, không bắt chẹt một số người và không đòi hỏi quá nhiều nơi số khác, khi dẫn chứng câu chuyện Y-sơ-ra-ên chia sẻ ma-na trong sa mạc. Trong câu 13-15, ông nói:
Tôi không có ý muốn để những người khác được thong thả còn anh chị em lại bị cơ cực, nhưng tôi muốn có sự quân bình. Hiện tại anh chị em đang dư dả thì giúp đỡ cho họ trong lúc túng thiếu; để khi được dư dả họ sẽ giúp đỡ anh chị em khi anh chị em bị túng thiếu. Như vậy là bằng nhau. Như có lời chép rằng: “Kẻ thu nhiều cũng không thừa, Người thu ít cũng chẳng thiếu!”
Hội Thánh đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem, sau ngày lễ Ngũ Tuần cũng đã hành xử như thế. Luca ký thuật lại điều đó trong Công Vụ 4: 32-35:
Bấy giờ cả cộng đồng tín hữu đều đồng tâm nhất trí, không ai coi tài sản mình là của riêng, nhưng kể mọi vật là của chung. Các sứ đồ cậy quyền năng lớn lao cứ làm chứng về sự sống lại của Chúa Giê-xu và tất cả đều được ân sủng dồi dào. Trong các tín hữu, không còn ai nghèo thiếu, vì những người có ruộng, có nhà đều bán đi, đem tiền bán tài sản đặt nơi chân các sứ đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người tùy theo nhu cầu cá nhân.
Có ba yếu tố liên quan mật thiết với nhau cần lưu ý trong phân đoạn Kinh Thánh này. Thứ nhất, “Các sứ đồ … làm chứng về sự sống lại của Chúa Giê-xu”. Thứ hai, “tất cả đều được ân sủng dồi dào”. Thứ ba, “trong các tín hữu, không còn ai nghèo thiếu”. Lời chứng của các sứ đồ cung ứng đủ ân điển của Đức Chúa Trời, một cách rõ ràng, giữa vòng các tín hữu; và kết quả thực tiễn nằm ở chỗ: mọi nhu cầu của họ đều được thỏa mãn. Như vậy, cả dân sự Chúa là mẫu mực của sự hiệp nhất, là lời chứng tiếp theo về ân điển đầy trọn của Ngài trong mọi lĩnh vực của đời sống họ. Thế giới hôm nay cần những bằng chứng tương tự của Cơ-đốc nhân, một sự liên kết với Đức Chúa Trời thông qua đức tin nơi Đấng Christ và một lòng son sắt với nhau, để đáp ứng mọi nhu cầu cho nhau. (còn tiếp)
DEREK PRINCE – SỐNG BỞI ĐỨC TIN (FAITH TO LIVE BY)

ĂN BỞI ĐỨC TIN

Thế Nào Là Ăn Bởi Đức Tin?
Chúng ta đã ghi nhận rằng, “phần ba” của “bản giao hưởng” Rô-ma được dành riêng cho vấn đề áp dụng đức tin của chúng ta vào thực tiễn. “Phần” này được bắt đầu từ đâu? Từ một vấn đề xa vời và phù du chăng? – Không! Ngược lại, từ câu đầu tiên đã đề cập đến thân thể của chúng ta.
Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.
Phao-lô dạy rằng, “sự thờ phượng phải lẽ” của chúng ta nằm ở việc phó dâng chính thân thể mình cho Đức Chúa Trời. Có nghĩa là phần thiêng liêng, phần “đạo” của chúng ta cũng chính là những gì rất thực tế, rất “đời”. Nó được bắt đầu từ cái cách mà chúng ta đối đãi với thân thể của mình (trong chương Mười, chúng ta sẽ xem xét cách chi tiết kết quả của việc “dâng thân thể mình cho Đức Chúa Trời”).
Kể từ đây, Phao-lô xét đến những cung bậc khác nhau trong những lĩnh vực thực tiễn của đời sống cơ-đốc. Trong đoạn 14, ông đặc biệt chú ý đến vấn đề ăn uống. (Rõ ràng rằng, không có gì quan trọng hơn đối với thân thể của chúng ta là chuyện ăn!). Phao-lô nêu ra hai loại tín hữu: “Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi” (Roma 14: 2). Ông không khẳng quyết rằng, ăn rau là đúng và ăn thịt là sai hoặc ngược lại. Đúng hơn, ông khẳng định rằng, tất cả những gì mà chúng ta làm bởi đức tin thì đó là đúng, còn điều gì mà chúng ta làm không bởi đức tin thì là sai. Rồi ông kết luận ở cuối đoạn: “Nhưng ai có lòng nghi ngại về thức ăn nào, thì bị định tội rồi, vì chẳng bởi đức tin mà làm; vả, phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi”. (Roma 14: 23)
Ở đây, Phao-lô xác nhận chính nguyên tắc mà ông đã nói đến trong phần mở đầu của lá thơ này. Trong Roma 1: 17, ông trình bày nguyên tắc này dưới dạng tích cực: “người công chính sống bởi đức tin”, còn trong đoạn 14: 23, thì nó được trình bày dưới dạng tiêu cực: “tất cả điều gì không bởi đức tin là tội lỗi”. Xem xét hai hình thức, cả tích cực lẫn tiêu cực, duy chỉ một kết luận được rút ra: đức tin là cơ sở hay nền tảng duy nhất của một đời sống công chính.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét làm thế nào chúng ta có thể áp dụng đức tin của mình vào chuyện ăn uống. Chúng ta bị đòi buộc là phải “ăn bởi đức tin”. Có vẽ khó nghe quá, đúng không? Làm thế nào có thể thực hiện được việc này trong thực tế?
Ở đây, chúng ta cần ghi nhớ một vài yếu tố. Trước hết, phải nhìn nhận rằng, chúng ta lệ thuộc nơi Đức Chúa Trời trong vấn đề thức ăn. Chúng ta nhận lãnh thức ăn như là quà tặng từ Chúa. Nếu Ngài không chu cấp đủ thì chúng ta sẽ đói.
Thứ hai, theo đúng quy luật, chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời vì thức ăn. Sự cảm tạ còn mang lại một kết quả, mà Phao-lô có giải thích trong 1Timothe 4: 4-5:
Vì mọi vật do Đức Chúa Trời dựng nên đều tốt cả, không vật gì đáng bỏ, miễn là biết cảm tạ mà nhận lấy. Vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa
Nếu chúng ta ăn với lời cầu nguyện cảm tạ, thì thức ăn sẽ được “thánh hóa”, tức là trở nên một vật thánh, được Chúa định trước vì cớ lợi ích của chúng ta. Thậm chí, nếu trong thức ăn có thành phần nào đó không sạch hoặc độc hại thì bởi lời cầu nguyện cảm tạ mà những độc tố ấy cũng bị tiêu trừ.
Thứ ba, việc ăn uống bởi đức tin còn mang lại một kết quả vượt ra khỏi giới hạn của chuyện ẩm thực. Thức ăn của chúng ta là nguồn sức lực tự nhiên của chúng ta, còn Đức Chúa Trời là cội nguồn thức ăn của chúng ta.
Như vậy, sức lực của chúng ta tự thân nó là một tặng phẩm của Chúa. Chúng ta không có quyền sử dụng nó cho những mục đích tội lỗi hay ích kỷ, nhưng phải có trách nhiệm biệt riêng nó để phục vụ Đức Chúa Trời và làm vinh hiển Ngài.
Nếu chúng ta bằng cách đó áp dụng nguyên tắc đức tin vào trong chuyện ăn uống, thì mọi lĩnh vực của đời sống chúng ta sẽ có một ý nghĩa mới. Chúng ta hiểu thể nào, Phao-lô khuyên dạy tín hữu tại Cô-rinh-tô: “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm” (1Corinhto 10: 31). Thông qua đức tin, thậm chí chuyện ăn uống hàng ngày của chúng ta cũng trở nên một hành động thánh thiện, mà tại đó chúng ta có thể làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Đó chính là một trong những kết quả trực tiếp và rõ ràng nơi đời sống của những tín hữu đã được đổ đầy Đức Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần. Việc ăn uống của họ đã trở nên bữa tiệc thiêng liêng của sự phục vụ và ngợi khen. Trong Công vụ 2: 46-47, Luca mô tả:
Hằng ngày, họ cứ đồng tâm chuyên cần đến Đền Thờ, họp nhau bẻ bánh từ nhà này sang nhà khác, dùng bữa với nhau cách vui vẻ rộng lượng, ca ngợi Đức Chúa Trời và được lòng tất cả mọi người. Mỗi ngày, Chúa tăng thêm số người được cứu.
Trong việc ăn uống của những Cơ-đốc nhân này có một điều gì đó khác thường, mà đã đánh động cảm tình nơi những người láng giềng chưa tin và rải ra ơn cứu rỗi. Điều này cũng có thể xảy ra với chúng ta, nếu chúng ta khởi sự thực hành đức tin trong chuyện ăn uống của mình!
Nếu kết quả của việc “ăn uống bởi đức tin” lớn lao như thế, thì đâu là hậu quả của việc khinh thường nguyên tắc đức tin trong lĩnh vực này? Để có một khái niệm rõ nét về một người ăn không bởi đức tin, chúng ta sẽ cùng xem trong sách Truyền Đạo.
Trong phần lớn của sách này, Sa-lô-môn mô tả một “con người tự nhiên”, tức là người sống trọn cả đời mình trong sự vô tín, không có được ân huệ và sự hiểu biết về Đức Chúa Trời. Bữa ăn của người đó được mô tả như thế này trong đoạn 5: 17: “Lại trọn đời mình, mình ăn trong sự tối tăm, phải nhiều sự buồn rầu đau đớn và phiền não”.
Hình ảnh mới kinh ngạc làm sao: “người ăn trong sự tối tăm”! Điều này có nghĩa gì? Đó là tình trạng ngược lại của việc “ăn bởi đức tin”. Người như thế không cho rằng thức ăn là do Chúa ban tặng, và người sẽ không vì nó mà cảm tạ Ngài. Do đó, thức ăn sẽ không được ban phước và thánh hóa. Kết quả sẽ là gì? – Nhiều sự buồn rầu đau đớn và phiền não.
Chúng ta đã xem xét khá chi tiết, cách áp dụng nguyên tắc đức tin vào trong một sinh hoạt thường nhật là chuyện ăn uống. Giờ đây, chúng ta nhận biết đầy đủ hơn về lĩnh vực áp dụng của Roma 1: 17 – “người công chính sống bởi đức tin”. Như chúng ta đã thấy, đức tin là kênh dẫn của sự sống Đức Chúa Trời. Càng sử dụng đức tin chừng nào, chúng ta càng kinh nghiệm sự sống đó chừng nấy. Mọi công việc mà chúng ta áp dụng đức tin vào đó, đều sẽ được thông suốt bởi sự sống của Đức Chúa Trời. Nó sẽ không còn nhàm tẻ, tầm thường mà trở nên tươi mới, phấn khích và vui mừng – và đó sẽ là lý do để thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa! (còn tiếp)
DEREK PRINCE – SỐNG BỞI ĐỨC TIN (FAITH TO LIVE BY)



ĐỨC TIN LÀ PHONG CÁCH SỐNG

Vào khoảng sáu thế kỷ trước thời đại của chúng ta, Đức Chúa Trời đã ban cho tiên tri Ha-ba-cúc mặc khải về nội dung của Phúc Âm: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin của mình” (Hab. 2: 4). Lời tiên tri này phản ánh chính xác đề tài chính của sứ điệp Cơ-đốc, và nó được lập lại đến ba lần trong kinh Tân Ước: Rô-ma 1: 17; Galati 3: 11 và Hê-bơ-rơ 10: 38.
Đức Tin Là Nền Tảng Duy Nhất
Lời tiên tri của Ha-ba-cúc được đặc biệt chú ý trong thơ Rô-ma, và trên thực tế, nó đã trở thành chủ đề của thơ tín này. Để có được một cái nhìn tổng thể về thơ Rô-ma, chúng ta có thể so sánh nó với bản giao hưởng của thiên tài âm nhạc Bethoven. Mười lăm câu đầu của đoạn 1 là lời giới thiệu, 2 câu tiếp theo 16 và 17 là chủ đề: “NGƯỜI CÔNG CHÍNH SẼ SỐNG BỞI ĐỨC TIN”.
Tiếp theo, bản giao hưởng được chia làm ba phần. Phần một bao gồm các đoạn từ 1 đến 8. Trong phần này, Phao-lô phân tích chủ đề cách chi tiết và hợp lẽ, khi chứng minh thể nào nó phù hợp với những lời tiên tri và mẫu hình của Cựu Ước. Phần hai gồm các đoạn từ 9 đến 11, được Phao-lô dùng để chỉ ra sự liên hệ giữa chủ đề này với dân Y-sơ-ra-ên. Ông chứng minh những nỗ lực của người Do-thái để đạt được sự công chính bởi việc làm, chớ không bởi đức tin đã làm đui mù họ đến nỗi họ không nhận biết Đấng Mê-sia, và như thế, họ đã đánh mất những phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã sẳn dành cho họ thông qua Đấng đó. Phần ba bao gồm các đoạn từ 12 đến 16, được dùng để nhấn mạnh đến khía cạnh thực tiển của đức tin. Phao-lô chỉ ra thể nào sự công chính thông qua đức tin cần phải được thể hiện ra trong mọi hoạt động, mọi mối quan hệ và mọi bổn phận khác nhau trong đời sống thường nhật.
Để có thể hiểu được bản giao hưởng, chúng ta cần tách bạch chủ đề mà người nhạc sĩ đã đặt vào, rồi sau đó dõi theo nó cẩn thận trong suốt cả tác phẩm. Nếu không ghi nhớ chủ đề trong trí mình, chúng ta không thể đánh giá đầy đủ những biến tấu và cung bậc khi chuyển sang những phần kế tiếp. Cùng một nguyên tắc như thế đối với thơ Rô-ma. Thứ nhất, chúng ta cần phải nắm vững chủ đề xuyên suốt cả bức thơ: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin”. Sau đó, tùy theo việc nghiên cứu những phần chính của bức thơ, chúng ta cần ghi nhớ chủ đề này trong trí, tập trung xem xét vào việc nó liên hệ thế nào đến mỗi vấn đề đang được luận bàn. Làm như thế sẽ giúp chúng ta hiểu được toàn bộ bức thơ cách thống nhất và đúng quy tắc.
Trong đoạn 1, câu 16, Phao-lô chỉ ra đòi hỏi căn bản để được kinh nghiệm quyền năng cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm vì đây là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái và sau là người Hy Lạp.
Sự cứu rỗi dành cho mọi người, “mọi người tin” – trước tiên là cho người Do-thái và sau đó, đến lượt người Hy-lạp. Không phân biệt ai hết ! Không có sự khác biệt về tôn giáo hay dân tộc. Để tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho mọi người, chỉ cần đáp ứng một đòi hỏi vô cùng đơn giản và không bao giờ thay đổi. Đó chính là đức tin.
Trong câu 17, Phao-lô giải thích, cách nào để có thể hiểu được lẽ thật về sự cứu rỗi này:
Vì trong Phúc Âm ấy sự công chính của Đức Chúa Trời được tỏ ra từ đức tin đến đức tin như Kinh Thánh chép: “NGƯỜI CÔNG CHÍNH SẼ SỐNG BỞI ĐỨC TIN”.
Từ “đức tin” được lập lại trong câu này đến ba lần. Mặc khải của Đức Chúa Trời – từ đức tin đến đức tin. Mọi sự được bắt đầu từ đức tin của chính Đức Chúa Trời – đức tin vào việc lời phán của Ngài sẽ hoàn thành mục đích được nói ra. Tiếp theo, thông qua đức tin của các sứ giả, sứ điệp được chuyển đến người nhận, và một lần nữa, việc nhận này cũng bởi đức tin. Thế thì, sứ điệp là thế này: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin”. Từ đầu đến cuối chỉ có một đề tài: đức tin.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét câu văn này cách cụ thể hơn. Nó vô cùng giản dị: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin”. Rõ ràng rằng, “sống” trong ngữ cảnh này hàm ý nhiều nghĩa hơn là cuộc sống đời thường, đời sống vật lý. Vì ngay cả những kẻ ác, những người không có Chúa vẫn có loại đời sống như thế. Thế nhưng, trong Thánh Kinh luôn hàm chứa mặc khải về một loại sự sống khác – sống công chính, là sự sống bắt nguồn từ Đức Chúa Trời. Cách duy nhất để nhận được sự sống đó là đức tin vào Chúa Giê-xu Christ.
Sự sống đời đời này của Đức Chúa Trời được đặc biệt chú ý trong sách Tin Lành Giăng. Trong đoạn 1 câu 4, Chúa Giê-xu được kể là: “Trong Ngài có sự sống”. Còn trong đoạn 3, câu 36 dẫn lời chứng của Giăng Bap-tít về Chúa Giê-xu: “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời”. Rồi trong đoạn 6, câu 47, chính Chúa Giê-xu tuyên bố: “ai tin Ta thì được sự sống đời đời”. Và trong đoạn 10: 10 “còn Ta đến để cho chiên được sống và được sống sung mãn”; rồi các câu 27-28 “Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta. Ta ban cho nó sự sống đời đời”. Cuối cùng, khi kết thúc, Giăng đã trình bày mục đích chính mà mình đã viết ra Phúc Âm này: “các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (Gi. 20: 31).
Trong đoạn 5 của thơ thứ nhất gởi cho Hội Thánh, Giăng đã quay lại đề tài này:
Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống.Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời  (c. 11-13)
Hãy chú ý một chi tiết quan trọng này: Giăng luôn sử dụng thì hiện tại: “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời”; “các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời”.
Phao-lô cũng mô tả sự sống này trong Đấng Christ cách ngắn gọn và rõ ràng. Trong thơ Philip 1: 21, ông nói: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi”, còn trong thơ Colose 3: 4 “Đấng Christ, là sự sống của anh em”. Đối với Phao-lô, cũng như đối với Giăng thì sự sống này là rất thực, chớ không đơn thuần là hy vọng ở tương lai.
Đó chính là nội dung của sứ điệp Phúc Âm. Thực sự có sự sống đời đời của Đức Chúa Trời, là sự sống bắt nguồn từ Chúa. Chúa dành sẵn sự sống này cho chúng ta trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Một khi chúng ta bởi đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu vào lòng và sống một đời vâng phục Ngài, thì chúng ta sẽ được sự sống của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể sống đời sống này ngay tại đây và từ bây giờ. “Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống”, có ngay bây giờ và sẽ còn đến đời sau. Sự sống đời đời trở nên sở hữu của chúng ta, kể từ thời điểm chúng ta thật lòng tin nhận Chúa Giê-xu Christ.
Như vậy, khi tiếp nhận sự sống mới bởi đức tin vào trong Đấng Christ, chúng ta tiếp nhận lời kêu gọi sống đời sống này cách thực tế từ ngày này sang ngày khác. Làm thế nào để đạt được điều này ? Câu trả lời rất đơn giản: bởi đức tin. Đó chính là điều mà Phao-lô đã nói đến: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin”. Từ quan điểm thực tế, “sống” là một từ có ý nghĩa đa dạng nhất mà chúng ta sử dụng. Mọi điều chúng ta làm trong mọi thời điểm điều là sống: ăn, uống, ngủ, làm việc và tất cả mọi hoạt động cần yếu khác trong cuộc sống. Thông qua đức tin tất cả những công việc thường nhật này đều có thể phản ánh sự sống của Đức Chúa Trời đang hiện diện bên trong mỗi một chúng ta.
Chúng ta thường có thói quen cho rằng, đời sống thường nhật thì không có giá trị thuộc linh và nó không thể là lĩnh vực để bày tỏ đức tin của mình. Thế nhưng, trên thực tế thì Kinh Thánh không dạy như vậy. Chỉ sau khi chúng ta vận dụng thành công đức tin của mình vào những lĩnh vực vật chất bình thường của đời sống, thì Đức Chúa Trời mới nâng chúng ta lên mức độ cao hơn của trọng trách thuộc linh. Chính Chúa Giê-xu đã nêu ra nguyên tắc này trong Phúc Âm Luca 16: 10-11:
Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn. Vậy nếu các ngươi không trung tín về của bất nghĩa, có ai đem của thật giao cho các ngươi?
Chỉ sau khi chúng ta kiểm nghiệm đức tin của mình trong những “việc nhỏ” và trong của cải (tiền bạc) bất nghĩa, thì Chúa mới giao phó cho chúng ta những trọng trách lớn và ban cho chúng ta của cải thuộc linh thật.
Do đó, khi phân tích thể nào chúng ta có thể sống bởi đức tin trong cuộc sống đời thường, chúng ta sẽ xem xét hai lĩnh vực rất thực tiển và thế tục: ăn uống và tài chánh. Trên cơ sở nhiều năm quan sát cách cá nhân, tôi rút ra kết luận rằng, người tín hữu nào biết vận dụng đức tin vào hai lĩnh vực này, thì người ấy có nhiều cơ hội trong một đời sống cơ-đốc thành công. Ngược lại, nếu những lĩnh vực căn bản này của đời sống một người tin Chúa không nằm dưới sự kiểm soát của Đức Chúa Trời, thì đó là dấu chỉ của sự phá sản thuộc linh. (Còn tiếp)

 Derek Prince - SỐNG BỞI ĐỨC TIN (FAITH TO LIVE BY)

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

SỰ CỨU RỖI

Sự cứu rỗi là món quà vô giá mà Đức Chúa Trời dành cho nhân loại thông qua sự chết đền tội của Đức Chúa Giê-xu Christ trên thập tự giá hơn hai ngàn năm về trước. Đây là món quà dành cho tất cả mọi người, vì “Chúa muốn cho mọi người đều được cứu và hiểu biết lẽ thật”.
Chúng ta sẽ cùng nhau khám phá một số khía cạnh của món quà thiêng thượng này dựa trên lời của Chúa trong sách Công vụ đoạn 10: 1-48.
Phân đoạn Kinh Thánh này tỏ bày cho chúng ta ba phương diện liên quan đến sự cứu rỗi. Đó là: Đối tượng nhận sự cứu rỗi, Đối tượng truyền rao sự cứu rỗi và Phương tiện truyền rao sự cứu rỗi.
I.     Người Có Quyền Cao, Đức Trọng Vẫn Cần Được Cứu Rỗi
Cọt-nây là một sĩ quan quân đội, người chỉ huy 100 binh lính. Như vậy, ông là người có địa vị xã hội, có quyền chức và chắc chắn là ông không thuộc diện nghèo khó. Thế nhưng, ông vẫn cần đến sự cứu rỗi.
Điều đó nói lên rằng, không chỉ người nghèo khó, bịnh tật hay hạng bình dân, ít học mà ngay cả những người có địa vị cao, tức là những người có quyền chức trong xã hội, những người giàu sang, có học thức vẫn cần được cứu rỗi. Nói cách khác, người giàu sang, quyền cao chức trọng vẫn cần có Chúa. Tại sao?
Bởi vì con người ta không chỉ có phần xác mà còn có phần hồn nữa. Tức là, ta không chỉ có nhu cầu thuộc thể mà còn có cả những nhu cầu về phần tâm linh nữa. Chẳng hạn, sự bình an trong tấm lòng và sự sống vĩnh phúc trong tâm linh thì ngoài Thiên Chúa ra, không tiền bạc nào hay địa vị gì có thể mang lại cho chúng ta được.
Không ai có thể sống mà không thở; Không ai có thể thở mà không có không khí. Chúa cần yếu như không khí vậy, không ai có thể thật sự sống nếu thiếu Ngài. Một khi bị bắt ra khỏi nước thì cá lớn hay cá bé gì cũng chết. Chúa cần yếu cho chúng ta cũng như cá cần nước vậy. Vì mọi người – giàu nghèo, sang hèn, khôn dai, trẻ già – đều bị nhốt trong tội lỗi. Mà tiền công của tội lỗi là sự chết. Do đó, mọi người nói chung và Cọt-nây – người có quyền thế, địa vị – nói riêng, đều cần được cứu rỗi, cứu ra khỏi sự chết đời đời.
Câu 2 và 4 đề cập đến “lời cầu nguyện và việc cứu tế” của Cọt-nây. Theo ý người ta tin từ câu 2, thì ông là một người đã quy đạo Do Thái, tức là đã thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người Do Thái. Thế nhưng, lòng sùng đạo và những việc phúc đức không thể đem lại cho Cọt-nây sự cứu rỗi.
Kinh Thánh xác nhận rằng, Cọt-nây là người sùng đạo, thường xuyên giúp đỡ người nghèo khó và trung tín đi lễ cầu nguyện. Nhưng chừng đó là chưa đủ, chừng đó việc chưa thể khiến cho ông nhận được sự cứu rỗi. Nói cách khác, công đức của vị sĩ quan quân đội này không đủ để cứu ông.
Anh chị em ơi, lời cầu nguyện của chúng ta và việc dâng hiến của chúng ta luôn được Chúa ghi nhận nhưng đó không phải là cơ sở để chúng ta được cứu khỏi sự chết đời đời.
Hình ảnh của Cọt-nây nói lên điều gì? Đó là có những con người đã được chuẩn bị sẵn sàng để nhận lãnh ơn cứu rỗi đang ở chung quanh chúng ta. Họ có thể là một thầy dạy luật Ni-cô-đem, một người phụ nữ tai tiếng ở Sa-ma-ri, một Sau-lơ đang bắt bớ Hội thánh hay là một sĩ quan quân đội như Cọt-nây.
Đó chính là lý do mà khi còn tại thế, Đức Chúa Giê-xu đã bảo các môn đồ trong Tin Lành Giăng 4: 35 Chẳng phải chính các con đã nói còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt, nhưng Ta bảo: Hãy ngước mắt lên nhìn đồng lúa chín vàng, sẵn cho mùa gặt đó sao.
Hãy nhìn ra xung quanh nơi ở của bạn, trong lớp học, nơi làm việc của bạn để Đức Thánh Linh chỉ tỏ cho bạn những con người đã sẵn lòng nhận lãnh ơn cứu rỗi.
II.   Người Tin Chúa Là Công Cụ Mà Chúa Dùng Để Giúp Đỡ Người Khác Nhận Lãnh Ơn Cứu Rỗi
Trong câu chuyện này chúng ta thấy có sự xuất hiện của các thiên sứ - những hữu thể siêu nhiên, những sứ giả Thiên Đàng. Tuy nhiên, các vị này không được giao nhiệm vụ rao giảng Tin Lành. Giảng Tin Lành là sứ vụ mà Chúa giao cho những người tin theo Chúa.
Không phải thiên sứ mà Phi-e-rơ mới là người được Chúa chọn để rao giảng về Chúa Giê-xu cho Cọt-nây và gia đình của ông. Anh chị em ơi, Chúa không chọn thiên sứ mà là chính mỗi một chúng ta để giới thiệu về Chúa Giê-xu cho thầy cô, bạn bè, cha mẹ, đồng nghiệp, … của chúng ta. Há chẳng phải mỗi một chúng ta là người được Chúa chọn để “rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngàiđó sao (1Phê-rơ 2: 9)
Thế nhưng … Phi-e-rơ là một đại sứ đồ, còn chúng ta … ? Vâng, ông là một đại sứ đồ nhưng trước khi trở thành đại sứ đồ, ông đã từng là một đại phản đồ. Vì duy nhất trong Nhóm Mười Hai, ông là người chối Chúa ba lần!
Một người từng có quá khứ đầy thất bại như thế mà Chúa còn tin dùng để rao giảng về Ngài, thì bạn và tôi chẳng lẽ, Chúa lại không dùng ngang tới cỡ đó sao?
Là một trong những người trực tiếp nghe Chúa Giê-xu phán bảo rằng, Phúc Âm về Nước Đức Chúa Trời sẽ được truyền giảng khắp thế giới để làm chứng cho muôn dân, bấy giờ tận thế sẽ đến (Mathiơ 24: 14) hay “… và các con sẽ làm nhân chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến tận cùng quả đất (Công vụ 1: 8), nhưng tại sao cho đến tận lúc này, Phi-e-rơ cũng như các sứ đồ vẫn chưa chịu đi ra rao giảng về Chúa Giê-xu cho dân ngoại? Câu trả lời có thể tìm thấy trong chính lời đáp của Phi-e-rơ: “Lạy Chúa! Không được đâu! Con chẳng bao giờ ăn vật gì ô uế hoặc không tinh sạch” (c. 14). “… theo phong tục người Do Thái, kết thân với người khác chủng tộc hoặc đến thăm họ là điều cấm kỵ” (c. 28). Phi-e-rơ đã được dạy dỗ như thế từ bé và đã sống như thế từ lúc nhỏ và chính sự dạy dỗ đó, phong tục đó hay là cách suy nghĩ đó khiến ông không vâng lời Đức Chúa Trời.
Có thể, không biết tự bao giờ trong tâm trí của chúng ta luôn tồn tại ý tưởng rằng, làm chứng về Chúa Giê-xu cho người khác là công việc của mục sư, của những nhân sự hầu việc Chúa chớ không phải của mình. Có thể, một ai đó trong chúng ta nghĩ rằng, đến một lúc nào đó – chẳng hạn: khi lớn lên, khi bớt bnh, khi hết nợ, khi có công ăn việc làm ổn định, khi hiểu biết nhiều hơn về Chúa, … – mình sẽ làm chứng về Chúa, chớ còn bây giờ thì chưa. Cũng có thể, một ai đó trong chúng ta lại cho rằng, công việc hiện tại không cho phép mình làm chứng về Chúa cho người khác hoặc giả, chúng ta có ý tưởng rằng, những người xung quanh mình chắc họ sẽ không tin Chúa đâu, …
Tất cả những lập luận, ý tưởng trên thoạt nghe thì rất có lý, nhưng tiếc thay, đó không phải là chân lý.
Bài học từ câu 15 là gì? – Điều cần phải tin, điều cần phải làm theo là Mạng lịnh của Chúa chớ không phải là truyền thống, là phong tục hay suy luận của chúng ta. Mà mạng lịnh của Chúa là gì? – “Hãy đứng dậy làm thịt mà ăn!”, không chừa gì cả. Đó cũng chính là Mạng lịnh mà Chúa Giê-xu đã phán trong Mac 16: 15 “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người”.
Vậy thì, ngày nay, chúng ta có cần phải chờ đợi cho đến khi nhận được mặc khải từ trời như Phi-e-rơ rồi mới đi ra không? – Nếu bạn xem trọng mạng lịnh truyền giảng của Chúa hơn là phong tục hay lý luận của mình thì không cần phải chờ đợi nữa. Mặt khác, nếu bạn có một đời sống cầu nguyện như Phi-e-rơ, cầu nguyện ngay cả trong khi chờ người ta dọn bữa trưa cho mình, thì hãy nói đến chuyện mặc khải từ trời.
Phẩm cách quan trọng từ Phi-e-rơ – người được Chúa dùng để đem sự cứu rỗi đến cho cả nhà Cọt-nây – chính là sự vâng lời. Ông vâng lời Chúa tiếp đón người nhà Cọt-nây, rồi vâng lời Chúa cùng đi với họ đến nhà của Cọt-nây.
Những người thánh của Chúa trong Thánh Kinh, những anh hùng đức tin trong Cựu Ước và cả Tân Ước được Chúa tin dùng và thậm chí là được Chúa đại dụng không phải vì họ không sai lầm hay không còn khuyết điểm mà là họ sẵn lòng vâng lời. Đức Chúa Trời chọn Ap-ra-ham, Môi-se, Đa-vit, Phi-e-rơ vì họ là những người biết vâng lời.
Vấn đề không nằm ở chỗ bạn là người thế nào – là người lớn tuổi hay nhỏ tuổi, là người mới tin Chúa hay đã nhiều năm trong Chúa, là người trưởng thành hay con trẻ thuộc linh – mà là bạn có sẵn lòng vâng lời Chúa không. Điều quan trọng đối với Chúa không phải là quá khứ của bạn thế nào hay là tài năng của bạn tới đâu, mà là bạn có phải là người muốn làm theo mạng lịnh của Chúa hay không mà thôi.
Nếu anh chị em là người sẵn lòng vâng lời Chúa, đi ra giảng Tin Lành cho mọi người thì anh chị em “sẽ ăn được sản vật tốt nhất của đất” (Esai 1: 19). Nếu anh chị em là người vâng lời Chúa, thì anh chị em sẽ nhìn thấy Chúa đại dụng mình trong việc đem nhiều người – kể cả những người giàu sang, có học thức và quyền cao chức trọng vào trong Hội thánh của Ngài.
III.  Giảng Tin Lành Là Phương Tiện Giúp Người Ta Nhận Lãnh Ơn Cứu Rỗi
Lý do mà thiên sứ bảo Cọt-nây sai người đến mời Phi-e-rơ tới nhà là để “người ấy sẽ nói cho ngươi những lời, mà nhờ đó, ngươi và cả nhà mình sẽ được cứu rỗi” (Công v 11: 14).
Mục sư Reihard Bonnke nói rằng, “Tin Lành mà không được rao giảng thì không còn là Tin Lành nữa”. Chúng ta nhận được sự cứu rỗi là bởi đức tin, mà “đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà sự người ta nghe là khi Lời Đấng Christ được rao giảng” (Roma 10: 17).
Cọt-nây và gia đình của ông nhận được sự cứu rỗi khi Phi-e-rơ công bố Tin Lành. Cũng một thể ấy, người thân của chúng ta, thầy cô giáo của chúng ta, đồng nghiệp và hàng xóm láng giềng của chúng ta cùng gia đình của họ sẽ nhận được sự cứu rỗi, một khi chúng ta vâng lời Chúa rao giảng Tin Lành.
Có một người chị em kia, khi chuyển chỗ ở về một khu chung cư, Chúa mách bảo chị hàng ngày hãy mở những bài giảng, những đĩa đọc Kinh Thánh cách đủ lớn cho mọi người xung quanh có thể nghe. Chị cứ vâng lời làm theo và lạ lùng là một thời gian sau nhiều người tìm đến căn hộ của chị để tiếp nhận Chúa. Và rồi một điểm nhóm được thành lập tại đó.
Vâng, Lời Chúa phải được giảng ra, Tin Lành phải được công bố. Thế nhưng, Tin Lành hay sứ điệp Tin Lành là gì ? Nhiều người sẽ nhanh nhẩu trả lời rằng, Tin Lành là Tin Mừng, Tin Mừng không phải là tin buồn hay Tin Mừng là tin vui. Nhưng đâu là nội dung của Tin Vui, Tin Mừng hay Tin Lành đó?
Từ câu 37-43 là nội dung của Tin Lành. Đây là điều mà chúng ta phải rao báo khắp mọi nơi. Chúng ta có thể xem bản rút gọn của Tin Lành tại 1Corinhto 15: 1-4. Theo đó, nội dung của Tin Lành là Đấng Christ đã chết vì tội chúng ta, Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba Ngài sống lại từ trong kẻ chết.
Đó chính là nội dung cốt lõi của Tin Lành và là “quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” (Roma 1: 16).
Cứ hễ nơi đâu Tin Lành được rao giảng thì nơi đó luôn có sự xác chứng của Đức Thánh Linh. Căn cứ vào đâu mà Phi-e-rơ biết chắc rằng, việc rao giảng của ông sẽ có kết quả? Đó là sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh trên người nghe.
Và nhờ có sự đồng công của Đức Thánh Linh mà lòng người nghe bị bắt phục. Không phải Phi-e-rơ mà chính Đức Thánh Linh mới là tác nhân khiến Cọt-nây và cả nhà ông tin nhận Chúa. Sự đồng công của Đức Thánh Linh với những người đi ra rao giảng Tin Lành chính là điều mà Chúa Giê-xu đã phán hứa trong Phúc Âm Mac. 16: 20 “Chúa cùng làm việc với họ và xác chứng lời họ bằng nhiều dấu lạ kèm theo”.
Thế thì, anh chị em ơi, đừng quá lo lắng khi rao truyền sự cứu rỗi cho người khác, nhất là những người có học thức, hay địa vị cao hơn anh chị em. Khá nhớ rằng, Chúa Thánh Linh luôn đồng hành cùng anh chị em. Mỗi khi anh chị em làm chứng, Ngài ở đó. Ngài ở đó để thuyết phục người nghe; Ngài ở đó để xác chứng lời giảng của anh chị em và Ngài ở cùng anh chị em cho đến kỳ chung kết đời.
Ngày xưa, Chúa dùng Phi-e-rơ giảng Tin Lành để cứu cả gia đình một vị sĩ quan quân đội còn ngày nay, Chúa đang tìm kiếm những tấm lòng vâng lời từ nơi con dân của Ngài để đem sự cứu rỗi đến cho biết bao gia đình trên đất nước Việt nam. Bạn có phải là Phi-e-rơ của ngày hôm nay không?
Chúa đang bảo bạn đứng dậy và đi kìa.

Bài giảng của Ms Barnabas tại Hội thánh Antioch vào Chúa nhật, 6/9/2009

ĐỨC CHÚA TRỜI VẪN CÒN LÀM PHÉP LẠ

Khắp mọi nơi người ta đang trông đợi phấn hưng từ nơi Chúa. Có thể lý do của mỗi một người thì khác nhau, nhưng ai nấy đang ngóng trông giờ phút đó. Khác với 20 năm về trước, tức là vào cuối những năm 88 của thế kỷ trước, chúng ta ngày nay không ai thắc mắc là Chúa có phấn hưng Hội Thánh hay không, vì ai cũng đã được biết về những gì Chúa đã làm trong lần phấn hưng đó rồi. Ngày nay, đều mà người ta quan tâm là khi nào thì Chúa sẽ đổ Thánh Linh một lần nữa trên Hội Thánh của Ngài tại Việt Nam.
Trong tinh thần vọng trông cơn phấn hưng hầu đến, chúng ta sẽ cùng nhau tra xem nơi lời của Chúa trong Công vụ 8: 4-25, để học biết những gì sẽ xảy ra một khi Chúa thăm viếng đất này. Phân đoạn Kinh Thánh này sẽ tỏ bày cho chúng ta một lần nữa về Đức Chúa Trời của chúng ta – Đức Chúa Trời hay làm phép lạ. Rằng bất cứ nơi nào có sự thăm viếng của Ngài, nơi đó có phép lạ, sự tự do dành cho con người cùng sự tôn cao dành cho chính mình Ngài.
I.     Nơi đâu Lời Chúa thật sự được rao giảng nơi đó có dấu kỳ phép lạ xảy ra
Hãy để ý hình ảnh: “những người di tản đi đến đâu cũng truyền giảng Phúc Âm”. Một trong những người di tản đó có tên là Philip. Bản Dịch Cũ kể rằng, “Philip cũng vậy …”, tức là ông cũng không khác chi những người lánh nạn khác: … xuống thành Sa-ma-ri mà giảng về Đấng Christ!
Phép lạ bắt đầu ở chỗ đó. Phép lạ bắt đầu từ chỗ những người nam, người nữ của Đức Chúa Trời khởi sự rao giảng về Đấng Christ, khởi sự nói về Đức Giê-xu, Cứu Chúa của mình. Dấu kỳ phép lạ của Đức Chúa Trời sẽ xảy ra khi dân sự của Chúa, khi tôi tớ của Chúa bắt đầu rao giảng về Tin Lành, tức là rao giảng về sự chết, sự chôn và sự sống lại của Chúa Giê-xu.
Trong II Các Vua chương 5 có kể lại câu chuyện vị tướng người Sy-ri tên là Na-a-man được chữa lành bịnh phung, một căn bịnh được xem là bất trị vào thời bấy giờ. Phép lạ này xảy ra khi có một bé gái người Y-sơ-ra-ên, bị bắt làm con ở giới thiệu về Chúa cách gián tiếp.
Trong Công vụ chương 3, người què ở cổng Đền Thờ Giê-ru-sa-lem được chữa lành hoàn toàn khi Phi-e-rơ công xưng danh quyền năng của Chúa Giê-xu.
Tại sao hễ nơi nào Lời Chúa được rao giảng, hễ nơi nào có người giảng về Chúa Giê-xu thì nơi đó dấu kỳ, phép lạ lại xảy ra? – Vì chính Chúa đã bảo đảm như thế. Ngài hứa rằng, sẽ dùng các dấu kỳ, phép lạ cặp theo để xác chứng lời giảng của con dân Ngài (Mac 16: 20). Đó chính là lý do mà Phao-lô khẳng định trong I Tesalonica 1: 5 rằng, Phúc Âm chúng tôi đã truyền cho anh chị em không phải chỉ bằng lời nói nhưng bằng quyền năng, nhờ Đức Thánh Linh và đầy lòng tin quyết.
Điều cần lưu ý là “những người di tản” này và ngay cả Philip cũng không phải được Hội Thánh Giê-ru-sa-lem sai đến Sa-ma-ri để giảng Tin Lành. Không ai sai họ đi đến đó cả, có thể nhiều người trong số họ không muốn đến vùng đất đó – vùng đất ô uế, đáng khinh bỉ đối với người Do Thái như họ – họ đã bị rượt đến. Nói cách khác, họ bị đến chớ không phải được đến! Ấy mà môi miệng của những con người bị rượt đuổi này luôn nói về điều gì ? – Không phải là tin xấu, tin dữ về bắt bớ, bách hại, … mà là Tin Lành; không phải về hoạn nạn, khó khăn, về nan đề của cá nhân mà là về Đấng Christ, về Chúa.
Không phải là họ cuồng tín hay trốn chạy thực tại mà là vì Chúa ban cho họ nhận thức được tình trạng khẩn cấp trong việc rao giảng Tin Lành cho những người hư mất. Họ nhìn thấy tình trạng thuộc linh, vấn nạn thuộc linh của những người Sa-ma-ri là quan trọng hơn, là khẩn cấp hơn, nguy kịch hơn cả những nan đề mà họ đang đối diện nữa. Đó là lý do mà “những người di tản đi đến đâu cũng truyền giảng Phúc Âm, đi đến đâu cũng rao giảng về Đấng Christ. Và hễ nơi đâu Phúc Âm được rao giảng, bất kỳ nơi nào người ta nói về Chúa Giê-xu, thì nơi đó dấu kỳ phép lạ của Chúa còn xảy ra.
Anh chị em ơi, trong Công vụ 1: 8 dạy rằng, chúng ta được Chúa chọn để làm nhân chứng cho Chúa Giê-xu, hay nói như Bản dịch củ là “làm chứng về Ta”, tức là về Chúa Giê-xu, chớ không phải về chúng ta. Thế thì trong những ngày vừa qua, môi miệng của tôi và anh chị em đang nói về ai? – về Chúa Giê-xu hay về chính chúng ta; về những công việc mà Ngài đã, đang và sẽ làm hay ta đang “giảng” cho người khác về những nan đề của mình, những sự vô tín, lo lắng, bất an của mình? Ngày mỗi một ngày, chúng ta đang làm chứng về Tin Lành hay đang làm chứng cho người khác về những tin xấu trong Hội Thánh, những sai phạm, lỗi lầm của những anh chị em đồng đạo của mình?
Phép lạ của Chúa chỉ xảy ra khi và chỉ khi Tin Lành được rao giảng; dấu kỳ chỉ xảy ra khi Lời Chúa được rao giảng; Chúa chỉ làm phép lạ khi con dân của Ngài vâng lời Ngài làm chứng về Chúa Giê-xu mà thôi.
Một điểm nữa mà chúng ta cần lưu ý trong phân đoạn Kinh Thánh này, đó là những người “truyền giảng Phúc Âm”, những người giảng “về Đấng Christ”. Họ là ai? – Ngoại trừ, Philip thì còn lại đều là những người vô danh. Họ chỉ là những thành viên bình thường trong HT. Thành viên bình thường trong HT vẫn có thể giảng Tin Lành, thành viên bình thường vẫn có thể giảng về Chúa Giê-xu. Vấn đề là chúng ta có muốn làm điều đó, tức là có muốn vâng lời Chúa hay không, chớ không phải có thể làm điều đó hay không.
Philip là ai? Trong Công vụ 6: 1-7 cho chúng ta biết rằng, ông là một trong bảy chấp sự của Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Ông được chọn để làm gì? – Câu 2, cho thấy ông và các bạn được chọn để giúp các sứ đồ, tức những người lãnh đạo Hội Thánh, “cấp phát thức ăn” mỗi ngày cho những người quả phụ. Số là, lúc bấy giờ “tất cả các tín hữu đều hợp nhất với nhau, lấy mọi vật sở hữu làm của chung, bán tài sản của cải mà phân phát cho mọi tín hữu tùy theo nhu cầu của mỗi người (2: 44-45), nên mới phát sinh chuyện đó. Nói theo ngôn ngữ ngày hôm nay, thì Philip chưa hẳn đã là một chấp sự, mà chỉ là một người có tâm tình phục vụ, một người sẵn sàng tham gia công việc chung, khi Hội Thánh có nhu cầu mà thôi. Ấy vậy mà người này đã giảng về Đấng Christ, và rất nhiều dấu kỳ, phép lạ đã xảy ra. Kinh Thánh thuật lại rằng, “nhiều tà linh hét lên mà xuất khỏi những người bị ám. Nhiều người bại liệt và què quặt được chữa lành, nên thành phố tràn ngập niềm vui”.
Tôi khao khát được Chúa tin dùng như thế. Anh chị em có mong ước được Chúa sử dụng mình như Philip, như những người di tản xuống Sa-ma-ri năm xưa không? – Hãy rao giảng Tin Lành, hãy tiếp tục làm chứng về Chúa Giê-xu. Khi chúng ta tiếp tục rao giảng Lời Chúa khắp mọi nơi, bất luận gặp thời hay không gặp thời, thì có một điều chắc chắn sẽ xảy ra: Chúa sẽ đồng công với mỗi chúng ta, lấy các dấu kỳ, phép lạ cặp theo để xác chứng lời Ngài, là Lời được rao giảng qua môi miệng mỗi chúng ta.
II.   Nơi đâu quyền phép của Chúa xảy ra nơi đó người ta được tự do (c. 9-13)
Trong sách Phúc Âm Giăng 8: 32 Chúa Giê-xu dạy rằng, khi một người biết lẽ thật thì lẽ thật sẽ buông tha người, hay nói như Bản Dịch Mới là “sẽ giải phóng” người ấy. Nơi đâu Lời Đức Chúa Trời được rao giảng, nơi đó dấu kỳ, phép lạ của Chúa sẽ xảy ra. Và nơi đâu có quyền phép của Chúa xảy ra, nơi đó người ta được tự do.
Hãy để ý đến hình ảnh trong câu 7-8: “nhiều tà linh hét lên mà xuất khỏi những người bị ám, nhiều người bại liệt và què quặt được chữa lành, nên thành phố tràn ngập niềm vui”. Đó là sự tự do, sự tự do đến từ Chúa: tự do khỏi sự áp chế của tà ma, tự do khỏi tật nguyền, đau yếu, tự do khỏi buồn khổ, lo lắng và tự do khỏi thù hận, cay đắng.
Không chỉ dừng lại ở đó, sự tự do bởi quyền phép của Chúa còn đến với những người từng là công cụ của ma quỷ. Trong trường hợp cụ thể này là thầy phù thủy có tên Si-môn. Ông là một người nổi tiếng về phép thuật ở thành phố này, trước khi Tin Lành quyền năng được rao giảng tại đó. Ai nấy đều trọng vọng và ca tụng nhưng thật ra thì ai nấy đều sợ ông ta.
Mục sư Nguyễn Như Hạnh làm chứng rằng, có một tay thầy mo người Bru rất cao tay ấn, tuy còn khá trẻ chưa đến 30 tuổi nhưng cả làng ai cũng sợ. Từ cán bộ chính quyền, công an cho đến dân thường đều sợ hãi vì y ta có thể yếm chú khiến bịnh tật hoặc chết bất cứ người nào. Một hôm y nghe về Chúa Giê-xu qua một Mục sư rồi bằng lòng tiếp nhận Chúa, thì bị cả làng đuổi ra rừng mà sống để cho “con ma rừng nó bắt đi”. Nhưng rồi, không có “con ma nào bắt được” người, vì vị thần mới của anh ta là lớn hơn hết mọi thần linh, nên anh lần lượt “bắt” hết người này đến người khác trong làng của mình, cũng như trong những làng lân cận – không phải để chết, mà là để sống – về cho Chúa Giê-xu.
Khi quyền phép Chúa bày tỏ ra để xác chứng Lời của Ngài, thì ngay cả những thầy mo, thầy pháp, thầy phù thủy, … cũng được Chúa chạm đến. Tại sao? – Vì họ cũng là đối tượng cần được thương xót; họ cũng là những người cần được hưởng ơn cứu rỗi; họ cũng là những con người mà Chúa đang tìm để cứu, như Ngài đã tuyên bố trong Luca 4: 18-19 rằng, “Thần Chúa ngự trên Ta, vì Ngài đã xức dầu cho Ta, để truyền giảng Tin Mừng cho người nghèo khổ. Ngài đã sai Ta công bố cho kẻ bị tù được phóng thích, cho kẻ mù lòa được sáng mắt, cho người bị áp bức được giải thoát, và công bố kỷ nguyên thi ân của Chúa”.
Kinh Thánh thuật lại trong câu 13 rằng, Chính Si-môn cũng tin và sau khi chịu phép báp-tem, cứ theo sát bên Phi-líp. Khi Si-môn thấy các dấu lạ và việc quyền năng vĩ đại Phi-líp làm thì ngạc nhiên vô cùng”. Một người đã từng trổ tài ma thuật, khiến cho từ lớn đến bé đều trọng vọng và thậm chí ca tụng rằng: “Ông này có quyền năng của Thiên Chúa, quyền năng vĩ đại”, lại lấy làm “ngạc nhiên vô cùng” trước những dấu lạ và việc quyền năng mà người của Đức Chúa Trời đã làm. Điều đó chứng tỏ rằng, quyền năng của Chúa là vượt trỗi hơn quyền năng của ma quỷ. Dấu kỳ, phép lạ từ nơi Chúa là mạnh mẽ, là kỳ diệu đến nỗi ngay cả những thầy pháp, thầy cúng đại tài cũng phải kinh sợ.
Không loại trừ khả năng rằng chính chỗ “ngạc nhiên vô cùng” khi thấy các dấu lạ và việc quyền năng vĩ đại mà người của Đức Chúa Trời đã thực hiện đang khi rao giảng Tin Lành, đã bắt phục thầy pháp Si-môn. Chính quyền phép của Đức Chúa Trời đã giải phóng ông khỏi sự cầm buộc của ma quỷ. Chính quyền năng của Đức Chúa Trời đã ban cho ông sự tự do. Ông không chỉ tiếp nhận Chúa, mà còn chịu báp-têm và còn theo “thầy” học đạo luôn, nói theo ngôn ngữ ngày hôm nay là chịu huấn luyện để trở nên môn đồ.
Nếu anh chị em đã từng tham gia cầu nguyện giải cứu những người bị tà ma hãm áp thì anh chị em sẽ phần nào hiểu được một người thầy pháp, thầy cúng, … tin Chúa là khó dường nào. Nhưng thật lời như lời Chúa đã phán: “không chi khó quá cho Chúa” hay “không việc gì mà Chúa không làm được”.
Biết bao nhiêu người nam, người nữ trên đất nước này đang bị ma quỷ sử dụng, biết bao thầy bùa, thầy pháp cần được cứu. Ai sẽ là người đem Tin Mừng đến cho họ. Cần nhớ rằng, Philip không đi tìm thầy pháp để giảng Tin Lành; ông không đi tìm thầy phù thủy để giảng về Chúa Giê-xu. Việc mà ông cũng như những người lánh nạn khác đã làm là rao giảng Lời Chúa, và Đức Chúa Trời đã đưa thuật sĩ Si-môn đến. Việc của chúng ta là làm chứng về Chúa Giê-xu, việc của Đức Chúa Trời là kéo người ta đến và ban cho họ sự tự do.
Điều gì sẽ xảy ra đối với những người mà trước đây đã từng nhờ Si-môn cúng vái, giờ thấy ông tin nhận Chúa? – Ảnh hưởng đó thật là lớn lao. Không chỉ một mình ông được tự do, mà sự tự do từ nơi Chúa sẽ lan ra một cách mạnh mẽ là dường nào!
III. Quyền phép của Chúa được trang bị cho chúng ta không để tôn cao chúng ta mà là nhằm tôn cao Chúa (c. 14-25)
Khi quyền năng Chúa bày tỏ ra thì khắp nơi đều biết đến. Điều này là tự nhiên, vì nơi đâu có sự hiện diện của Chúa nơi đó có quyền năng; nơi đâu có quyền năng của Chúa nơi đó người ta được tự do. Mà nơi đâu có quyền năng của Chúa, người ta từ khắp các nơi sẽ tìm đến, bất kể đó là Giê-ru-sa-lem hay là Sa-ma-ri. Không chỉ những người có nhu cầu mới tìm đến mà ngay cả những sứ đồ từ Giê-ru-sa-lem – những người có tiếng tăm cũng tìm đến!
Người ta sẽ không quan tâm nhóm tín hữu tại Sa-ma-ri thuộc “hệ” nào. Việc nhóm tín hữu tại đó chỉ do một “chú chấp sự” hướng dẫn không ảnh hưởng gì đến sự thăm viếng của họ. Người ta đến vì họ cần Chúa, người ta đến vì họ muốn nhìn thấy công việc của Chúa, chớ không phải người ta đến vì con người hay để xem công việc của con người.
Đó chính là hiện tượng đã từng xảy ra trên toàn cõi Palextin thời Giăng Bap-tit thi hành chức vụ. Người ta ùn ùn vào đồng vắng (sa mạc) để làm gì? – Không phải để xem một cây lau sậy phất phơ trước gió hay là một người trong gấm vóc lụa là (Mathiơ 11: 7-10). Họ vào nơi hoang địa thay vì nơi đô hội là vì nơi ấy có “người được Đức Chúa Trời sai đến”.
Như vậy, quyền năng Chúa bày tỏ ra ở đâu thì nơi đó trở nên “hút khách”. Hãy để ý những chức vụ nổi tiếng trên thế giới như Benny Hinn, Reihard Bonke, Calos Claudious, … Từ khắp thế giới người ta tìm mọi cách để tham dự được những buổi nhóm của các vị Mục sư này. Tiếng lạ ư, báp-têm Thánh Linh ư? – Không thành vấn đề. Mấy “râu ria” đó, mấy rào cản cỏn con đó không là gì so với khát khao được gặp Chúa, được nhìn thấy quyền năng của Chúa. Những ngày tới, khi Chúa thăm viếng một Hội Thánh thuộc một hệ phái nào bất kỳ, kể cả nhà thờ CMA, thì nơi đó sẽ là nơi mà mọi người sẽ đổ về; các buổi nhóm của Hội Thánh đó sẽ chật ních những con người từ khắp các hệ phái nhóm nhánh từ Báp-tít đến Ngũ Tuần, từ Giám Lý đến Trưởng Lão, từ Lu-thơ-ran đến CMA.
Quyền phép Chúa xuất hiện ở đâu thì sự nổi tiếng xảy ra ở đó. Thế nhưng, sự nổi tiếng đó không phải là dành cho con người hay cho Hội Thánh, kể cả những con người hay Hội Thánh đang được Chúa sử dụng để bày tỏ quyền năng. Si-môn không biết được điều đó. Si-môn chẳng những không biết rằng, ân tứ của Đức Chúa Trời không thể mua bằng tiền mà ông còn không biết rằng, Đức Chúa Trời không ban quyền phép cho người ta để đề cao chính mình.
Quyền phép của Đức Chúa Trời được ban cho chúng ta cách nhưng không, tức là miễn phí. Miễn phí chớ không phải là đồ bố thí, hàng dạt hay là đồ giảm giá. Miễn phí vì con người chúng ta, không ai có thể dùng bất kỳ một điều gì ngay cả mạng sống của mình để trao đổi với Chúa được. Miễn phí nhưng là vô giá, tức là không thể định giá, vô cùng quý giá chớ không phải là không (vô) giá trị. Quyền phép của Chúa được tỏ bày qua chúng ta là để tôn cao Chúa, để người ta nhận biết Chúa và chạy đến với Ngài, chớ không phải nhằm đề cao chúng ta và thu hút người ta đến với chúng ta.
Các sứ đồ quở trách Si-môn vì “lòng ông chẳng ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời”, khi cầu xin quyền phép Chúa. Ước ao được sở hữu quyền năng của Đức Chúa Trời không phải là sai, nhưng ước ao với một tấm lòng không ngay thẳng, tức là với một động cơ sai trật, thì Kinh Thánh nói rằng, người ấy đang làm “nô lệ cho tội lỗi” và người như thế thì “chẳng được dự phần hoặc hưởng điều gì trong chức vụ mà người ao ước đâu.
Anh chị em ơi, hãy cầu xin Chúa giữ lòng của mình ngay thẳng trước mặt Ngài luôn luôn. Đừng để mật đắng và xiềng tội ác cầm giữ lòng chúng ta đến nỗi ngay cả ước ao được nhận lấy điều mà Chúa hứa ban cho mỗi tín đồ cũng trở nên xa vời đối với mỗi một chúng ta.  
Trong những ngày qua, có thể tôi và mỗi anh chị em không ít lần cầu xin hoặc đang tiếp tục cầu xin Chúa chữa lành, làm phép lạ cho một cá nhân cụ thể nào đó đang bị bại liệt, đang bị ung thư chẳng hạn, nếu hôm nay Chúa hỏi chúng ta cách trực tiếp rằng, “tại sao con muốn ta làm phép lạ chữa lành cho người đó?”, thì bao nhiêu người trong chúng ta sẽ trả lời rằng: vì con muốn Chúa được tôn cao?
Đức Chúa Trời tại Sa-ma-ri năm nào cũng chính là Đức Chúa Trời của chúng ta ngày hôm nay. Ngài không hề thay đổi. Ngài vẫn là Đức Chúa Trời hay làm phép lạ  như Thi thiên 77: 14 đã nói. Bất cứ nơi đâu Phúc Âm được rao giảng, nơi đó người ta sẽ nhìn thấy dấu kỳ phép lạ từ Đức Chúa Trời. Bất cứ nơi đâu dấu kỳ phép lạ từ Đức Chúa Trời được bày tỏ, nơi đó người ta được tự do: tự do khỏi bệnh tật, tự do khỏi sự cầm buộc của ma quỷ, tự do khỏi thù hận, tự do khỏi đói nghèo và tự do khỏi những suy nghĩ ích kỷ, hẹp hòi. Và bất cứ khi nào dấu kỳ phép lạ từ Đức Chúa Trời, tức quyền phép của Ngài hiển lộ thì không phải con người hay tổ chức mà là chính Đức Chúa Trời được tôn vinh.
Bao nhiêu người trong anh chị em thật sự khao khát và mong ước những gì Đức Chúa Trời đã làm tại Sa-ma-ri năm xưa qua chức vụ của Philip và những tín hữu vô danh được tái hiện một cách đầy đủ và thậm chí vượt trỗi hơn trong mọi làng mạc, mọi thành phố của đất nước Việt nam? – Hãy trung tín làm phần của mình: rao giảng về Đấng Christ thì chúng ta sẽ được tận mắt chứng kiến những gì Chúa sẽ thực hiện phần của Ngài: phục hưng xứ sở của chúng ta.
Bài giảng của Ms Barnabas tại HT Antioch vào Chúa nhật, 2/8/2009