Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

ĐẮC THẮNG SỰ NẢN LÒNG


Hành trình theo Chúa là một hành trình đầy phước hạnh, song cũng không thiếu những khó khăn thách thức như lời bài một bài thánh ca đã diễn tả: “Đường sự sống chắc chắn vui mừng khôn xiết; đường sự sống chắc chắn đau buồn không thiếu …” Chính những gian khó trên con đường hẹp của bước linh trình đã khiến cho không biết bao thánh nhân đã rơi vào tình trạng ngã lòng, thối chí, và không loại trừ những giây phút đâm ra nghi ngờ cả Chúa.
Làm thế nào để đắc thắng sự ngã lòng trên hành trình theo Chúa? Làm thế nào để giữ vẹn lòng mình với Chúa khi những nan đề trong đời đang chờ chực bóp chết đức tin ta ? Đoạn Kinh Thánh Ma-thi-ơ 11: 2-6 với câu chuyện về cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-xu và môn đệ của Giăng Báp-tít sẽ chỉ tỏ cho mỗi chúng ta câu trả lời của Thánh Kinh cho vấn nạn thường nhật này.
Khi Giăng ở trong ngục nghe nói về các công việc của Đấng Christ, thì sai môn đồ mình đến thưa cùng Ngài rằng: Thầy có phải là Đấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi đấng khác chăng? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy về, thuật lại cùng Giăng những điều các ngươi nghe và thấy: Kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng tin lành. Phước cho ai chẳng vấp phạm vì cớ ta!
I.      Nguyên Nhân Của Sự Nản Lòng
Giăng Báp-tít là ai? – Người mở đường của Chúa Cứu Thế, người được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ trong lòng mẹ (Luca 1: 15), người đã từng có một chức vụ thành công mang tầm mức quốc gia (Mac 1: 5), người được Đức Chúa Trời trực tiếp mách bảo dấu chỉ để nhận ra Đấng Christ (Giăng 1: 31-34) và ông đã chứng kiến điều đó sau khi làm báp-têm cho Chúa Giê-xu tại sông Giô-đanh (Mac 1: 10-11). “Có phải Thầy là Đấng sẽ đến hay chúng tôi phải đợi Đấng khác?” Một người đầy kinh nghiệm như thế mà có lúc cũng đâm ra nghi ngờ Chúa sao?
Chúng ta cùng xem Ê-li, một tiên tri lớn của Đức Chúa Trời thời Cựu ước. Trong 1 Vua 18, một mình Ê-li dạn dĩ đối địch cùng với 850 tiên tri giả và vua A- hát gian ác trên đỉnh Cạt-mên, làm cho mưa sa xuống đất sau ba năm rưỡi hạn hán. Nhưng qua đoạn 19, ta lại thấy một Ê-li nản lòng, bỏ cuộc, bỏ chạy lấy thân và muốn chấm dứt chức vụ, chấm dứt cuộc đời (Xem 1Vua 19: 1-4)
Còn Giô-suê 1: 6-7, 9, 18,  chỉ trong một đoạn mà cụm từ “hãy vững lòng, bền chí” được lập lại đến 4 lần. Tại sao như thế? – Vì người của Đức Chúa Trời dễ rơi vào tình trạng “nản lòng, thối chí” trên hành trình bước đi theo Chúa, trong công trường phục vụ Chúa. Nói cách khác, tình trạng nản lòng, thối chí; việc người theo Chúa, người hầu việc Chúa ấm áp tư tưởng bỏ cuộc, thối lui là chuyện “thường ngày ở huyện”, là chuyện thường xảy ra.
“Có phải Thầy là Đấng sẽ đến hay chúng tôi phải đợi Đấng khác?” Một khi rơi vào tình trạng nản lòng, nao sờn, chúng ta thường có xu hướng nghi ngờ Chúa, nghi ngờ sự thành tín của Chúa, nghi ngờ tính chân thật nơi những Lời Hứa của Chúa, thậm chí nghi ngờ cả sự kêu gọi của Chúa dành cho mình.
“Không biết có thật không nữa?” – Đây là câu hỏi quay quắt trong chúng ta mỗi khi nao sờn, mệt mỏi vì thất bại, vì bị từ chối, vì lời cầu xin không nhận được câu trả lời. Khi bị nản lòng, thối chí, ta đọc Kinh Thánh không vào; Khi bị nản lòng thối chí, ta nghe giảng nhưng bán tín bán nghi: “nói dzậy chớ chắc chi đã dzậy”, “nói dzậy chớ hổng phải dzậy”
Phải chăng anh chị em đang mệt mỏi, nao sờn? Phải chăng anh chị em đang nản lòng, thối chí, đang ấm áp tư tưởng bỏ cuộc, thối lui, lìa bỏ cuộc chơi, trở nên người thụ động? Đừng lấy làm lạ về chuyện đó, biết bao người đi trước chúng ta cũng đã từng nao núng, cũng đã từng toan tính tẻ tách, dừng bước như thế. Nếu anh chị em đang rơi vào tình trạng như thế thì hãy nhớ rằng, Giăng Báp-tít, người mở đường cho Chúa Cứu Thế Giê-xu cũng đã từng bị như thế.
Nhưng tại sao, một người đã từng được Đức Chúa Trời mách bảo, từng được nghe lời xác chứng từ trời, từng được thấy Đức Thánh Linh lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Chúa Giê-xu lại đâm ra nghi ngờ rằng, không biết Chúa Giê-xu có phải là Đấng Christ, là Đấng Mê-sia, tức là vị Vua của Lời Hứa hay không?
Sở dĩ, Giăng đâm ra nghi ngờ không biết Giê-xu người Nazaret có phải là Đấng Mê-sia hay không là vì ông “đang ở trong ngục”.
Ông đang bị giam vì đã nói thẳng nói thật (Mac 6: 17-20). Nói cách khác, ông bị hoạn nạn không phải vì làm chuyện sai mà là làm chuyện đúng. Ông bị giam trong tù, trong khi Chúa Giê-xu vẫn thực thi chức vụ ở bên ngoài.
“Nếu Chúa Giê-xu là Đấng Mê-sia thì tại sao lại không cứu mình ra khỏi ngục, mình là người mở đường cho Chúa kia mà?”; “Nếu Giê-xu không thể cứu mình ra khỏi ngục, thì liệu những sự bày tỏ, những sự hiện thấy trước đây có thật sự là đến từ Đức Chúa Trời không? Biết đâu đó chỉ là sự lừa dối của ma quỉ hay là do mình tự tưởng tượng ra thì sao?” Có thể, đây là những ý tưởng tranh chiến liên tục nơi tâm trí của Giăng suốt những ngày tháng lao tù.
Giăng nghi ngờ Chúa Giê-xu không phải khi ông đang thành công, Giăng không nghi ngờ Chúa khi nhu cầu hàng ngày của ông được đáp ứng, dù chỉ là châu chấu và mật ong rừng. Giăng nghi ngờ Chúa khi quanh ông chỉ còn vài môn đồ thân tín, Giăng nghi ngờ Chúa khi ông phải sống trong một chỗ chật hẹp, bẩn thỉu; ông nghi ngờ Chúa khi ông không còn được tự do để làm công việc mà Chúa gọi ông làm; ông nghi ngờ Chúa khi điều ông ước mong, ông chờ đợi đã không xảy ra.
Anh chị em ơi, không khi nào chúng ta nghi ngờ Chúa nếu mọi đều chúng ta cầu xin Chúa đều nhanh chóng trả lời; Chúng ta không khi nào nghi ngờ Chúa nếu công ăn việc làm của chúng ta luôn thuận lợi, thu nhập của chúng ta luôn ổn định; Chúng ta không bao giờ nghi ngờ về sự kêu gọi của Chúa nếu chức vụ của chúng ta luôn thành công, hội thánh luôn tăng trưởng: số người nhóm lại gia tăng, tiền dâng hiến gia tăng, …
Chúng ta chỉ nghi ngờ khi những lời cầu xin của chúng ta dường như Chúa không nghe thấy, khi bệnh tật của chúng ta kêu van mãi mà vẫn không được lành; Chúng ta chỉ nghi ngờ khi tài chánh của chúng ta ngày một eo hẹp, thiếu trước hụt sau, … Chúng ta đâm ra nghi ngờ sự kêu gọi của Chúa khi thấy HT mà mình lãnh đạo, chăm sóc ngày một teo tóp lại: số người nhóm lại ít dần, số tiền dâng không đủ chi dùng cho những nhu cầu tối thiểu trong hội thánh, … “Không biết mình có nên tiếp tục hầu việc Chúa nữa không?”
Anh chị em ơi, phải chăng anh chị em đang có cùng tâm trạng như Giăng Báp-tít: “Có phải Thầy là Đấng sẽ đến hay chúng tôi phải đợi Đấng khác?” thì hãy nghe câu trả lời của Chúa Giê-xu để nhanh chóng bước ra khỏi sự nản lòng
II.    Bí Quyết Vượt Qua Sự Nản Lòng
Chúa Giê-xu không trả lời “phải” hoặc “không” cho câu hỏi của Giăng, câu hỏi của một người đang rơi vào tình trạng lung lay đức tin. Chúa không khẳng định cũng không hề phủ định rằng, mình là Đấng Mê-sia. Ngài chỉ bảo các môn đệ của Giăng hãy về “thuật lại”.
Thuật lại có nghĩa là nhắc lại, là điểm lại, là nhớ lại, là kể lại. Kể lại điều gì? – Trước hết là những gì họ đã nghe về những việc Chúa Giê-xu đã làm, tức là những gì họ biết được cách gián tiếp. Sau đó, là những điều họ đã thấy, tức là những gì Chúa đã làm mà họ tận mắt chứng kiến.
“Điều đã nghe” tức là những gì mà Chúa Giê-xu đã từng làm trên đời sống của những người khác. Còn “điều đã thấy” bao gồm cả những gì Chúa đã làm cho chính họ, tức là những gì họ đã từng kinh nghiệm.
Điều gì các môn đồ của Giăng đã nghe và thấy? – Kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng tin lành. Nói cách khác, điều mà các môn đồ của Giăng đã nghe và thấy là những công việc quyền năng, những dấu kỳ, phép lạ mà Chúa Giê-xu đã làm trên đời sống của người khác và ngay trên chính đời sống của họ.
Anh chị em đang nao núng đức tin vì bệnh tật của mình đã lâu mà không được chữa lành chăng? – Hãy đếm lại những lần Chúa chữa lành cho mình; hãy nhớ lại những phép lạ chữa lành Chúa đã làm trong hội thánh của mình.
Anh chị em đang lo lắng vì sự thiếu thốn tài chánh đang vây bủa, đang sợ hãi vì nợ nần đang đến kỳ thanh toán mà chưa biết lấy đâu ra chăng? – Hãy nhớ lại những lần Chúa đã tiếp trợ cách siêu nhiên cho anh chị em; hãy ôn lại những điều mà Chúa đã làm cho những người có nhu cầu về tài chánh trong những ngày qua trong hội thánh của mình.
Anh chị em đang nghi ngờ rằng không biết Chúa có kêu gọi mình hầu việc Chúa hay không khi nhìn thấy bầy chiên ngày một ít đi, khi thấy hội thánh ngày càng khô hạn đi chăng? Anh chị em đang tranh chiến trong lòng rằng, không biết Chúa có kêu gọi mình hầu việc Chúa trọn thì giờ không khi đối diện với nan đề tài chánh lớn lao của gia đình? – Hãy nhớ lại những ngày tháng trước đây, chúng ta bắt đầu phục vụ Chúa thế nào, Chúa nuôi chúng ta và gia đình chúng ta ra làm sao; Hãy nhớ lại những ngày tháng phước hạnh khi hội thánh tăng trưởng, hãy nhớ lại từng con người đã trưởng thành, đã được đổi đời từ nơi hội thánh của chúng ta mà ra.
Đối với một người đang nao núng đức tin, đối với một người đang sờn ngã trong chức vụ, và thậm chí đang nghi ngờ Chúa thì lời nói – dù là hay đến đâu cũng khó lòng thuyết phục được người. Đó là lý do mà Chúa bảo các môn đồ của Giăng hãy về thuật lại cho ông những gì họ đã thấy và đã nghe, tức là “kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng tin lành.
Tại sao? – Tại vì nếu họ không thể tin nơi những gì Chúa nói thì họ cũng sẽ tin nơi những gì Chúa làm (Giăng 10: 37-38)
“Hãy về thuật lại cho người những gì các ngươi đã nghe và thấy”, không chỉ là giải pháp cho mỗi một chúng ta khi rơi vào tình trạng nản lòng hay rúng động đức tin, mà còn là giải pháp để chúng ta giúp đỡ những người khác ra khỏi tình trạng nghi ngờ Chúa. Biết bao nhiêu người quanh ta đang vật lộn với chính đức tin của mình trong ngục tù của sự thiếu thốn tài chánh; của tật bệnh, ốm đau; của thất bại trong hôn nhân hay trong chức vụ. Họ đang đợi câu trả lời của Chúa từ nơi mỗi một chúng ta. Hãy đến với họ ngay hôm nay.
III.    Phần Thưởng Dành Cho Người Đắc Thắng Sự Nản Lòng
Không chỉ nêu ra giải pháp để giúp chúng ta đắc thắng sự nản lòng, thối chí mà Chúa Giê-xu còn có lời hứa dành cho người đắc thắng: Phước cho ai chẳng vấp phạm vì cớ ta!”, Bản Diễn Ý dịch là Phúc cho người nào không nghi ngờ Ta, còn Bản Phổ Thông thì dịch: Phúc cho người nào không nao núng trong đức tin vì ta. Nói cách khác, người nào đứng vững trong đức tin thì sẽ được phước!
Đây là lời hứa được lập lại khắp mọi nơi trong Kinh Thánh, và Kinh Thánh không thiếu những tấm gương kiên định trong đức tin được Đức Chúa Trời chứng nhận. Hê-bơ-rơ đoạn 11 là danh sách của những vị anh hùng đức tin như thế.
Đứng vững trong đức tin là người được phước hay nói cách khác, người không nghi ngờ Chúa khi đang đối diện với thử thách, khi điều mình cầu xin không thấy Chúa trả lời thì đó là người được phước.
Anh chị em ơi, khi tôi và anh chị em đang đối diện với những nan đề, khi tôi và anh chị em cầu xin mà không thấy Chúa trả lời thì đó không phải là tai họa đâu, mà là phước hạnh đó. Đó là cơ hội để chúng ta nhìn thấy “lượng đức tin” thật của mình; Đó là lúc mà động cơ theo Chúa, động cơ phục vụ Chúa kín dấu của chúng ta mới thật sự lộ ra; Đó là lúc mà lòng chúng ta mới thật sự hạ xuống vì ta sẽ thấy mình cũng tầm thường, cũng xác thịt, cũng non trẻ, cũng yếu đuối, … như và thậm chí hơn bao người khác, kể cả những người mà từ trước đến giờ ta vẫn coi thường, vẫn xem là kẻ ngồi chiếu dưới so với ta.
Hãy vững lòng, bền chí! Hãy ôn lại những điều Chúa đã làm, hãy đếm những ơn phước Chúa cho. Chúa Giê-xu của những phép lạ, dấu kỳ ngày hôm qua vẫn còn y nguyên như vậy trong ngày hôm nay. Chúa không hề thay đổi. Đừng nghi ngờ Chúa, đừng rúng động vì những ngoại cảnh bất lợi mà bạn đang đối diện. Đừng nghi ngờ sự thành tín của Chúa, đừng nghi ngờ tính chân thật của Lời Chúa, chớ khinh dể các lời tiên tri, cũng đừng nghi ngờ sự kêu gọi của Chúa dành cho mình.
Hãy thuật lại những gì mà anh chị em đã nghe và thấy Chúa từng làm, để giục lòng mạnh mẽ, để vững chí trượng phu mà chạy cho xong cuộc đua, với tư thế của người chiến thắng. Phước cho người chịu đựng sự thử thách, vì khi đã chịu nổi sự thử nghiệm, họ sẽ nhận mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho những người yêu mến Ngài (Gia-cơ 1: 12)
MSB
<a href="http://www.mediafire.com/?50364w49bbw84fm" target="_blank">http://www.mediafire.com/?50364w49bbw84fm</a>http://www.mediafire.com/?50364w49bbw84fm

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

VƯỜN XƯA ĐÊM ẤY



Mùa Thương Khó, Phục Sinh đang đến, chúng ta lại có dịp ngắm xem và ngẫm suy sự sống lại vinh diệu của Vua Giê-xu và tinh thần đầu phục tuyệt đối của Ngài trước ý nguyện của Đức Chúa Cha. Tuần này, chúng ta sẽ cùng nhau trở lại vườn Ghết-sê-ma-nê, nơi đã diễn ra một trận chiến quan trọng giữa ý người và ý Trời, có cả kẻ thắng, người thua, để học biết và chọn lựa cho chính mình một quyết định đúng. Một quyết định luôn đảm bảo sự đắc thắng cho chính mình giữa muôn màn cám dỗ, thách thức vây quanh trên hành trình theo Chúa.
Chi tiết của cuộc chiến này được tường thuật rất rõ ràng trong Phúc Âm Mác 14: 26-72
Sau khi hát thánh ca, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ ra đi, lên núi Ô-liu. Đức Chúa Jêsus bảo các môn đồ: “Tất cả các con đều sẽ vấp ngã; vì có lời chép rằng: ‘Ta sẽ đánh người chăn, thì chiên sẽ bị tan tác.’ Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đến Ga-li-lê trước các con.” Phi-e-rơ thưa: “Dù cho tất cả đều vấp ngã, nhưng con thì không.” Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo con, hôm nay, chính đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối Ta ba lần.” Nhưng Phi-e-rơ càng quả quyết hơn: “Dù có phải chết với Thầy, con sẽ chẳng chối Thầy đâu.” Tất cả các môn đồ khác cũng đều nói như vậy.
Sau đó, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đi đến một nơi, gọi là Ghết-sê-ma-nê. Ngài bảo họ: “Hãy ngồi đây trong khi Ta cầu nguyện.” Ngài đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi cùng. Ngài bắt đầu cảm thấy vô cùng sầu não và bối rối. Ngài nói với họ: “Linh hồn Ta đau buồn cho đến chết, các con hãy ở đây, và tỉnh thức.” Đi thêm một quãng nữa, Ngài sấp mình xuống đất và cầu nguyện để nếu có thể được thì xin giờ nầy qua khỏi Ngài. Ngài thưa: “A-ba, lạy Cha, mọi việc Cha đều làm được. Xin Cha cất chén nầy khỏi Con, nhưng không theo ý Con mà theo ý Cha.” Rồi Ngài trở lại, thấy ba người đang ngủ; Ngài nói với Phi-e-rơ: “Si-môn, con ngủ ư! Con không thể tỉnh thức được một giờ sao? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các con khỏi sa vào sự cám dỗ. Tâm linh thì tha thiết, mà xác thịt lại yếu đuối.” Ngài lại đi và cầu nguyện như lời cầu nguyện trước. Rồi Ngài trở lại và thấy họ vẫn ngủ, vì mắt họ đã đừ quá và họ không biết phải thưa với Ngài như thế nào. Ngài trở lại lần thứ ba, và nói với các môn đồ: “Các con vẫn cứ ngủ và nghỉ ngơi được sao? Đủ rồi, giờ đã đến! Nầy, Con Người sắp bị phản nộp vào tay những kẻ có tội. Hãy trỗi dậy, chúng ta đi. Kìa, kẻ phản Ta đã đến.”
Vừa đến, Giu-đa lập tức tiến lại gần Ngài và nói: “Thưa Thầy!” rồi hôn Ngài. Chúng liền ra tay bắt Ngài …
Họ giải Đức Chúa Jêsus đến nhà thầy tế lễ thượng phẩm. Tất cả các thầy tế lễ cả, các trưởng lão và thầy thông giáo đều tụ họp tại đó. Phi-e-rơ theo Ngài xa xa, vào đến sân dinh thầy tế lễ thượng phẩm, rồi ngồi với quân lính, sưởi ấm bên đống lửa. Các thầy tế lễ cả và toàn thể Hội đồng Công luận đều tìm bằng chứng chống lại Đức Chúa Jêsus để giết Ngài, nhưng không tìm được gì cả …  Thầy tế lễ thượng phẩm lại hỏi: “Ngươi có phải là Đấng Christ, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không?”  Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính Ta. Rồi đây các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Đấng Quyền Năng, và hiện đến giữa mây trời.”
Thầy tế lễ thượng phẩm xé áo mình và nói: “Chúng ta đâu cần tìm bằng chứng khác làm gì nữa? Các ông đã nghe lời phạm thượng rồi đó! Các ông quyết định thế nào?” Tất cả đều kết án Ngài đáng tội chết …
Lúc Phi-e-rơ đang ở dưới sân, một trong những đầy tớ gái của thầy tế lễ thượng phẩm đến gần, thấy Phi-e-rơ đang sưởi thì nhìn vào mặt ông và nói: “Ông cũng đã ở với Jêsus, người Na-xa-rét.” Nhưng Phi-e-rơ chối: “Tôi không biết, cũng không hiểu cô đang nói gì.” Rồi ông bỏ đi ra sân trước, thì gà gáy. Đầy tớ gái đó thấy ông, lại nói với những người đứng gần: “Ông nầy cũng thuộc nhóm đó.” Nhưng Phi-e-rơ lại chối một lần nữa. Một lúc sau, những người đứng gần lại nói với ông: “Chắc chắn anh thuộc nhóm đó rồi, vì anh là người Ga-li-lê.” Nhưng Phi-e-rơ liền rủa và thề: “Tôi không hề quen biết với người mà các ông nói đó!” Ngay lúc ấy, gà gáy lần thứ hai. Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã nói với mình: “Trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối Ta ba lần.” Ông bật khóc nức nở.
I.          Được Báo Trước Giống Nhau
A.    Phê-rơ đã được cảnh báo rằng sẽ ba lần chối Chúa. (Luca 22: 31-32)
Chúa là Đấng Toàn tri, tức là qua khứ, hiện tại tương lai của mỗi một chúng ta, Chúa đều biết cả. Chúa biết hết những gì sẽ xảy ra với mỗi một chúng ta, nhưng không phải lúc nào Chúa cũng báo trước cho những người theo Ngài tất cả những gì sẽ xảy ra với họ.
Tuy nhiên, đôi khi, theo chủ định của mình, Chúa cho một ai đó biết trước được điều sẽ xảy ra với người ấy. Chúa cho Môi-se biết trước rằng, Pharaon sẽ nhiều lần cứng lòng, từ chối không cho phép dân Y-sơ-ra-ên tự do rời Ai-cập (Xuất hành 3: 19); Chúa báo trước cho Phao-lô về hoạn nạn đang chờ sẵn ông tại Giê-ru-sa-lem (Công vụ 21: 10-11).
Chúa Giê-xu báo trước cho Phê-rơ biết rằng ông sẽ chối Ngài ba lần nhằm mục đích gì? Phải chăng đó là điều Chúa đã định sẵn, chắc chắn sẽ xảy ra, không cách nào thay đổi được? Nếu điều này là đúng thì lời phán của Chúa Giê-xu chính là lời tuyên án đối với Phê-rơ, mà ông không cách gì có thể thoát khỏi được.Thế nhưng, lời phán của Chúa Giê-xu đối với Phê-rơ, trong trường hợp này, không phải là lời tuyên án mà là một lời cảnh báo.
Thông thường, khi nhận được một tín hiệu cảnh báo thì tất cả chúng ta ngay lập tức đều ‘giảm tốc’, ‘dừng lại’ và ‘nhanh chóng đổi hướng’, tức là lập tức lánh xa khu vực, hay hướng đi nguy hiểm.
Khi báo trước cho Phê-rơ điều nầy, Chúa có muốn ông chối Ngài không? – Hẵn nhiên, là không. Chúa báo trước để Phê-rơ biết mà tránh việc đó. Chúa bảo rằng, tất cả các môn đệ sẽ vấp ngã, sẽ bỏ Ngài trốn chạy nhưng riêng Phê-rơ thì sẽ còn công khai xác nhận rằng ông không hề biết Chúa!
Ngày hôm nay cũng vậy, mỗi khi Chúa dùng Lời của Chúa, hay dùng một ai đó hoặc một hoàn cảnh nào đó để báo trước cho chúng ta tai họa hầu đến, đặc biệt là những hiểm họa đe dọa trực tiếp đến đức tin, đến mối quan hệ của chúng ta với Chúa thì chúng ta cần phải nhớ rằng, ấy là Chúa muốn chúng ta cẩn thận; Chúa không muốn chúng ta sa vào cám dỗ; Ngài không muốn chúng ta vấp ngã.
Chúa không muốn một ai trong chúng ta phạm tội; Chúa không muốn bất kỳ ai trong chúng ta vấp ngã; Ngài không muốn bất kỳ ai trong chúng ta chối bỏ đức tin hay lìa xa Chúa. Ngài chọn chúng ta là để thành công chớ không phải để thất bại; Chúa chọn chúng ta không phải để bỏ cuộc mà là để thắng cuộc, để đi trọn con đường Chúa gọi chúng ta đi.
B.    Đức Giê-xu cũng đã biết trước rằng, Ngài sẽ bị bắt và bị giết
Có một điểm tương đồng thú vị trong phần Kinh Thánh này. Ấy là Chúa Giê-xu cũng biết trước điều gì đang chờ đợi mình.
Trên núi Hóa Hình, cùng một câu chuyện được thuật lại như trong Mac 9, nhưng Luca 9: 28-31 cho chúng ta thêm một chi tiết ấn tượng: “Và kìa, có hai người nói chuyện với Ngài, đó là Môi-se và Ê-li. Họ hiện ra trong vinh quang và nói về sự chết của Ngài, là việc Ngài sắp làm ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem”.
Và khởi từ đây, Chúa Giê-xu bắt đầu nói về sự khổ nạn hầu đến của mình.
vì Ngài đang dạy các môn đồ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta, họ sẽ giết Ngài; và ba ngày sau khi bị giết, Ngài sẽ sống lại.” (Mac 9: 31)
Ngài nói: “Nầy, chúng ta lên thành Giê-ru-sa-lem, Con Người sẽ bị nộp cho các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo. Họ sẽ kết án tử hình Người, rồi giao cho dân ngoại. Người ta sẽ chế nhạo Người, khạc nhổ trên Người, đánh đòn và giết chết Người; nhưng sau ba ngày, Người sẽ sống lại.” (Mac 10: 33-34).
Điểm khác biệt duy nhất nằm ở chỗ: điều Phê-rơ biết trước là một sự cảnh báo, còn điều mà Chúa Giê-xu biết trước là ý muốn của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, điều mà Phê-rơ biết trước chính là điều mà Chúa không muốn xảy ra, còn điều mà Chúa Giê-xu biết trước lại chính là điều mà Đức Chúa Trời muốn xảy ra.
Như vậy, có hai lãnh vực mà Đức Chúa Trời thường bày tỏ hay ban sự biết trước cho con dân của Ngài. Một là báo trước những tai họa hay hiểm họa đang chực chờ. Và hai là tỏ cho ai đó biết được ý muốn của Ngài đối với người ấy.
II.        Cách Ứng Xử Khác Nhau Đối Với Những Gì Đã Được Báo Trước
A.            Được báo trước, được chỉ dẫn phương cách để đắc thắng (3 lần cả thảy) nhưng cách mà Phê-rơ và đồng bạn của mình đã chọn trong hoàn cảnh này là NGỦ.
Hầu như, Phê-rơ không tin vào những gì Chúa Giê-xu đã báo trước cho mình.
Đức Chúa Jêsus bảo các môn đồ: “Tất cả các con đều sẽ vấp ngã; ...” Phi-e-rơ thưa: “Dù cho tất cả đều vấp ngã, nhưng con thì không.” Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo con, hôm nay, chính đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối Ta ba lần.” Nhưng Phi-e-rơ càng quả quyết hơn: “Dù có phải chết với Thầy, con sẽ chẳng chối Thầy đâu.”
Ông tin quyết nơi chính mình đến nỗi coi thường hay bỏ qua lời cảnh báo của Chúa. “Làm sao mà mình có thể chối bỏ Chúa được. Ai đó thì có thể, chớ riêng mình thì chắc chắn là không. Mình là sứ đồ trưởng, là anh cả kia mà. Mình từng bao nhiêu lần kinh nghiệm Chúa, bao nhiêu lần chịu ơn Chúa, thì làm thế nào mình có thể chối Thầy cơ chứ. Không, không bao giờ”. Có thể Phê-rơ đã từng nghĩ như vậy.
Có lẽ, giống như Phê-rơ, ai đó trong chúng ta cũng đang có suy nghĩ như vậy. Nếu thật như thế thì khá nhớ rằng, “ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã” (1 Corinhto 10: 12).
Vì không tin nơi lời Chúa cảnh báo, nên Phê-rơ chẳng có hành vi phòng vệ hay chuẩn bị gì cả. Thậm chí, Chúa liên tục đánh thức và chỉ tỏ phương cách cụ thể để tranh khỏi hiểm họa này nhưng Phê-rơ và đồng bạn của mình vẫn bỏ ngoài tai.
Theo Chúa Giê-xu, phương cách để đắc thắng cám dỗ, phương cách để từ bỏ ý riêng, từ chối ham muốn của xác thịt và đầu phục ý muốn của Đức Chúa Trời là “tỉnh thức và cầu nguyện”.
“Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các con khỏi sa vào sự cám dỗ. Tâm linh thì tha thiết, (mong muốn – BDM) mà xác thịt lại yếu đuối” (c. 38). Ở đây, Chúa Giê-xu chỉ ra cho chúng ta thấy một mâu thuẫn nội tại trong đời sống của chúng ta, những người tin theo Chúa. Đó là, trong khi tâm linh của chúng ta, tức là con người bề trong, con người mới của chúng ta, luôn ao ước, luôn có xu hướng sống theo ý Chúa, làm theo Lời Chúa, thì xác thịt của chúng ta, tức con người cũ, con người bề ngoài của chúng ta luôn có xu hướng chìu theo những đòi hỏi của xác thịt, tức là sống theo những thói quen, ham thích tội lỗi xưa cũ, hoặc là có những thái độ hay hành vi luôn nghịch lại với ý muốn của Đức Chúa Trời.
Đây cũng chính là sự tranh chiến mà Phao-lô đã nhận thấy trong đời sống của ông: “Vậy tôi tìm thấy có luật này: Đó là khi tôi muốn làm điều lành thì điều ác cứ vương vấn tôi; Vì theo con người bề trong thì tôi thích kinh luật của Đức Chúa Trời, Nhưng tôi nhận thấy trong chi thể tôi một luật khác tranh chiến với luật của tâm trí tôi, và bắt tôi làm nô lệ cho luật tội lỗi là luật ở trong các chi thể tôi.” (Roma 7: 21-23)
Chúa Giê-xu muốn Phê-rơ ‘thức’ thì ông ‘ngủ’; Chúa bảo ông ‘cầu nguyện’ thì ông ‘không biết trả lời Ngài thế nào’.
Đúng là lúc ấy đã quá khuya, mắt các môn đồ và Phê-rơ đều trĩu nặng hay nói như trong Bản dịch củ là mắt của họ “đã đừ quá rồi”. Thế nhưng, hiểm họa đang đến với họ; tai nạn sắp trút xuống trên họ kia mà. Vậy mà họ vẫn ngủ được. Bị Chúa đánh thức ba bốn lần mà vẫn ngủ được, thậm chí là ngủ say sưa.
Có ai trong chúng ta nếu biết rằng ngày mai mình sẽ bị cảnh sát bắt, hay khuya nay mình sẽ bị tống vào tù, mà đêm nay còn có thể ngủ ngon không? – Chắc chắn là không có ai như vậy cả.
Phê-rơ và đồng bạn của mình ngủ ngon như thế là vì họ không lo. Họ không lo không phải vì không biết, hay là có đức tin lớn mà ngược lại, họ không lo vì họ không tin. Không tin vào những gì Chúa đã cảnh báo.
Ngày hôm nay cũng vậy, biết bao người vẫn miệt mài trong tội lỗi; biết bao người đang say mê trong bia rượu, trong tình dục bất khiết; biết bao người đang ngủ quên trong chuyện làm ăn gian lận, và thậm chí trong những mưu mô gian ác hại người nhằm lợi mình.
Phải chăng những người này không biết hậu quả của những việc họ làm? Phải chăng, chưa từng có ai cảnh báo họ hay tỏ cho họ biết kết cuộc cuối cùng mà họ phải gặt? – Họ biết, thậm chí biết rõ nữa là khác. Họ đã nghe, thậm chí nhiều nữa là khác. Nhưng họ không tin. Mà nếu có tin thì họ chỉ tin rằng, điều đó sẽ xảy ra với người khác chớ không bao giờ xảy ra với họ. Mà nếu có xảy ra với họ thì chắc … cũng không đến nỗi nào! Và thế là NGỦ. Miệt mài ngủ. Say mê ngủ.
B.            Đức Giê-xu cũng có ý muốn riêng (khỏi uống chén này) nhưng sự cầu nguyện liên tục, dốc đổ đã giúp Ngài đắc thắng ý riêng mà đầu phục ý Cha: sự cứu chuộc nhân loại.
Cùng biết trước giống nhau, trong cùng một thời điểm như nhau, tại cùng một địa điểm như nhau, nhưng cách phản ứng của Chúa Giê-xu đối với những gì Ngài được tỏ cho biết lại hoàn toàn khác biệt với Phê-rơ và các môn đồ.
Nhiều người sẽ vội cho rằng, vì Giê-xu là Đức Chúa Trời nên cách Ngài phản ứng đương nhiên là sẽ khác với Phê-rơ, một con người. Đúng. Giê-xu là Đức Chúa Trời nhưng khi sống và thi hành chức vụ trên đất, Ngài hành xử không phải trong tư cách của một Đức Chúa Trời mà là trong tư cách của một con người, một người được đẫy dẫy Đức Thánh Linh. Đó chính là cơ sở mà Ngài đã tuyên phán trong Giăng 14: 12 rằng “Thật vậy, Ta bảo các con: Người nào tin Ta, thì cũng sẽ làm những việc Ta làm, và còn làm những việc vĩ đại hơn nữa, vì Ta trở về cùng Cha”. Nếu những việc Chúa Giê-xu đã từng làm khi Ngài bước đi trên đất là trong tư cách của một Đức Chúa Trời thì ngày hôm nay và mãi mãi về sau, chúng ta không cách chi có thể làm được như thế, chớ đừng nói chi đến những việc vĩ đại hơn.
Thay vì say ngủ như Phê-rơ thì Chúa Giê-xu đã miệt mài cầu nguyện. Chính xác hơn là Ngài đã chiến đấu trong sự cầu nguyện. Kinh Thánh trong Luca 22: 43-44 cho biết: “Một thiên sứ từ trời hiện đến thêm sức cho Ngài. Trong cơn thống khổ, Ngài cầu nguyện càng khẩn thiết, mồ hôi Ngài trở nên như những giọt máu rơi xuống đất”.
Cám dỗ mà Phê-rơ đối diện là chối Chúa, còn cám dỗ mà Chúa Giê-xu đối diện ở đây là từ chối thực hiện ý muốn của Đức Chúa Cha. Về phương diện con người, Chúa Giê-xu không muốn phải chịu chết trên thập giá; Về phương diện con người, Chúa Giê-xu không muốn phải chịu lấy cái chết đau đớn, và nhục nhã này. Đó là lý do mà cả ba lần cầu nguyện, Chúa đã kêu lên: “Cha ơi, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này!” hay “Cha ơi, nếu có thể được, xin cất chén này khỏi con!” (c. 36)
Chúa Giê-xu có quyền chọn không làm theo ý muốn Đức Chúa Trời được không? Chúa Giê-xu có quyền sống theo ý riêng của Ngài được không? – Câu trả lời là có. Chính Chúa Giê-xu xác nhận rằng, “Không ai cất mạng sống Ta đi được, nhưng Ta tự nguyện hi sinh. Ta có quyền hi sinh mạng sống và có quyền lấy lại. Ta đã nhận mệnh lệnh nầy từ nơi Cha Ta” (Giăng 10: 18)
Thoạt trông thì có vẻ như Chúa Giê-xu bị buộc phải chết, trong khi Ngài không muốn chết. Và dường như, Chúa đang cầu xin Cha cho mình thoát khỏi án tử hình này. Thế nhưng, khi suy gẫm kỹ thì ta sẽ thấy việc Chúa Giê-xu phải ‘chiến đấu trong sự cầu nguyện’ là để đầu phục ý muốn của Đức Chúa Cha, chớ không phải đơn giản là xin được thoát khỏi chết.
Năm xưa, Gia-cốp đã vật lộn suốt đêm với Thiên sứ của Đức Chúa Trời trại khe Gia-bốc, trước lúc hồi hương. Tuy được xác nhận là ‘đã toàn thắng’ nhưng rõ ràng là Gia-cốp bị đánh đến ‘trẹo xương hông’, phải đi ‘khập khểnh’ suốt đời và thậm chí, di truyền cả ‘chiến tích’ này cho muôn đời con cháu của ông là người Do Thái! Điểm thú vị là Đấng vật lộn cùng Gia-cốp thuở xưa, theo nhiều thần học gia tin tưởng, cũng chính là Đấng đang ‘vật lộn’ suốt đêm tại vườn Ghết-sê-ma-nê năm nào để đầu phục ý muốn của Đức Chúa Cha.
Nếu Chúa Giê-xu mà khi còn trong thân xác con người mà còn phải vật lộn trong sự cầu nguyện như vậy để đầu phục ý muốn của Đức Chúa Cha thì mỗi một chúng ta cần phải chiến đấu trong sự cầu nguyện mỗi ngày càng hơn là dường nào.
Khi Chúa bảo rằng, “hãy tỉnh thức và cầu nguyện” thì điều đó có nghĩa rằng, tôi và mỗi một anh chị em có khả năng để tỉnh thức và cầu nguyện. Hình ảnh “một thiên sứ từ trời hiện đến thêm sức” cho Chúa Giê-xu khi Ngài chiến đấu trong sự cầu nguyện khích lệ chúng ta rằng, khi chúng ta tin cậy Chúa bước vào thì giờ cầu nguyện, đặc biệt là những lúc nhận được cảnh báo, thì Chúa sẽ thêm sức thiêng cho chúng ta theo cách của Ngài.
III.       Kết Quả Khác Nhau
A.            Cách phản ứng khác nhau thì tất yếu sẽ cho những kết quả khác nhau. Sự việc xảy ra cho Phê-rơ chính xác như những gì Chúa Giê-xu đã báo trước: ông đã chối Chúa ba lần trước khi gà gáy lần thứ hai!
Phê-rơ đã thất bại trước cám dỗ, không phải vì ông yếu đuối, bất toàn mà là vì ông không chịu áp dụng phương cách hay giải pháp ‘tỉnh thức và cầu nguyện’ của Chúa để đắc thắng.
Anh chị em ơi, chúng ta vốn là yếu đuối, không ai trong chúng ta là trọn vẹn hay mạnh mẽ đủ cả. Thế nhưng, tạ ơn Chúa, chúng ta vẫn có thể tránh được và tránh khỏi kết cuộc mà Phê-rơ đã gặp, dù cám dỗ hay thử thách có khốc liệt đến đâu đi nữa. “Sa vào” hay không sa vào sự (chước) cám dỗ là do chính mỗi một chúng ta quyết định. Nói cách khác, phước hay họa là do chính ta quyết định, thành hay bại là do chính ta quyết định, ‘huy hoàng’ hay ‘điêu tàn’ là do chính chúng ta quyết định – quyết định làm theo hay không làm theo lời phán của Đức Chúa Trời.
Hãy gọi tên sự vật cho đúng với bản chất của nó. Đừng bao giờ biện minh rằng, mình thất bại, mình bỏ cuộc là do yếu đuối, mà hãy thành thật xưng nhận: sở dĩ mình thất bại, thua cuộc là do mình không chịu làm theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời.
B.            Chúa Giê-xu là gương mẫu tuyệt vời cho mỗi một chúng ta trong cách sống đạo (sống theo Lời Chúa) mỗi ngày. Từ bỏ ý riêng và chấp nhận thuận theo ý Chúa là một cuộc tranh chiến dai dẵng, liên tục. Đó chính là tiến trình tôn Giê-xu làm Chúa, tức là Chủ trong đời sống của mỗi một chúng ta. Càng đến gần Chúa hơn trong sự cầu nguyện, bạn càng dễ dàng từ bỏ những sở thích, ham muốn, thói quen, toan tính và những mục tiêu của riêng mình, rồi bạn sẽ nhận thấy vui thỏa khi làm theo ý Chúa, sung sướng khi sống theo lời Chúa, và thanh thản, tự do, bình an khi bước đi theo đường lối Chúa.
Vì đã ‘tỉnh thức và cầu nguyện’ nên Chúa Giê-xu đã hoàn toàn vâng phục ý muốn của Đức Chúa Cha; Vì đã ‘tỉnh thức và cầu nguyện’ mà Chúa Giê-xu đã ‘làm xong công việc Cha giao cho Ngài’ – một công việc qua đỗi khó khăn, một công việc mà ngay cả ý riêng của Ngài cũng không muốn: một cái chết đau đớn, nhục nhã trên thập tự giá. Vâng, Chúa Giê-xu đã chết. Nhưng cái chết không phải là kết quả mà Chúa Giê-xu nhận lãnh qua sự vâng lời.
Kết quả là đây: Chính vì thế mà Đức Chúa Trời đã tôn Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, để khi nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, đều phải quỳ xuống, và mọi lưỡi đều phải xưng nhận Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha (Philip 2: 9-11)
Hai kết cuộc sống động ở trước mắt chúng ta. Một của Phê-rơ, và một của Chúa Giê-xu. Quyết định thuộc về mỗi một chúng ta. Bạn chọn loại kết cuộc nào?
MSB
(Bài giảng tại River of Life Sanctuary vào Chúa nhật, 3/3/2013)

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

CƠ HỘI CUỐI CÙNG


Mùa Thương Khó, Phục Sinh đang đến. Đây là thời khắc để ôn lại những gì mà Đấng Christ đã làm cho chúng ta trên thập giá. Nói đến Thương Khó, Phục Sinh là nói đến Tình Trời đã đổ ra cho nhân thế. Mà đã là tình yêu thì không thể không có hiến dâng. Trời yêu ta đã phó chính Con Ngài, còn ta yêu Trời thì ta sẽ hiến dâng chi. Có một câu chuyện mà đến Mùa Phục Sinh thì con dân Chúa thường được nghe nói đến. Đó là chuyện Chúa Giê-xu được xức dầu ở làng Bê-tha-ni được ký thuật trong Mac 14: 3-9. Một câu chuyện đáng được suy gẫm về lòng tận hiến trước tình Trời trong Mùa Thương Khó, Phục Sinh.
Đức Chúa Jêsus ở tại làng Bê-tha-ni, trong nhà của Si-môn là người phong hủi. Khi Ngài đang ngồi tại bàn ăn thì có một phụ nữ vào, mang theo một bình bằng ngọc đựng dầu cam tùng nguyên chất, rất đắt tiền. Bà ấy đập bể bình và đổ dầu thơm lên đầu Ngài. Có vài người tức giận nói với nhau: “Sao lại phung phí dầu thơm như vậy? Vì dầu nầy có thể bán được hơn ba trăm đơ-ni-ê để cho người nghèo.” Họ nặng lời với bà. Nhưng Đức Chúa Jêsus phán: “Hãy để mặc người. Tại sao các con gây phiền hà cho người ấy? Người đã làm một việc tốt cho Ta. Vì các con luôn có người nghèo bên mình, muốn làm phước cho họ lúc nào cũng được; nhưng không phải lúc nào cũng có Ta đâu. Người đã làm điều mình có thể làm, đã xức xác Ta để chuẩn bị cho việc chôn cất. Thật, Ta bảo các con, trên khắp thế giới nầy, bất cứ nơi nào Tin Lành được rao giảng, việc người phụ nữ nầy làm sẽ được nhắc đến để tưởng nhớ người.”
I.      Bất Kể Lúc Nào Cũng Có Thể Là Cơ Hội Cuối Cùng Để Phục Vụ Chúa Đối Với Mỗi Chúng Ta
A.    Xức dầu là một hành động thường thấy mà người ta dành cho khách quý của gia đình người Do Thái. Nghi thức này bao gồm: rửa chân, hôn và xức dầu trên đầu (Luca 7: 44-46). Nếu là thông thường tại sao các môn đồ lại giận dữ với cô ấy? Chúa Giê-xu đã ghé nhà Mary không ít lần để giảng dạy (Luca 10: 38-42), để chữa bệnh (Giăng 11), thì việc xức dầu cho Chúa thì lúc nào chẳng được. Thế nhưng, Chúa Giê-xu lại bảo rằng đây là điều mà cô ấy “có thể làm được”. Như vậy, vấn đề không nằm ở nghi thức mà là ở giá trị của lễ vật. Đây chính là nguyên do mà một số người, trong đó có Giu-đa nổii giận cùng Mary và oán trách cô vì hành động này.
Điều mà cô ấy “có thể làm được” là gì? Phải chăng đó là khả năng dâng hiến một lễ vật quý giá đến thế. Nếu tính theo thời giá thì bình dầu cam tòng khoảng nữa lít này có giá bán bằng một năm tiền công lao động (300 đơ-ni-ê). Thế nhưng, giá trị thật của một món đồ không phải lúc nào cũng tỉ lệ thuận với giá tiền mà người ta định cho nó.
Tại sao một số người thì tiếc khi nhìn thấy hành động của Mary, dù bình dầu quý không phải của họ, trong khi Mary lại không tiếc? Vì cô quá yêu Giê-xu nên mê muội hay là vì cô thật sự nhận thấy rằng Giê-xu người Nazaret xứng đáng được tôn trọng như thế? Kinh Thánh không cho biết điều này, song có một điều mà chúng ta biết được – qua lời Chúa Giê-xu đã nói – rằng, Mary đã làm được điều mà mình có thể làm. Điều mà Mary có thể hay có khả năng làm là gì? – Dâng bình dầu quý để xức trên đầu Chúa. Không phải là dâng bình dầu quý để Chúa sử dụng theo nhu cầu của Ngài mà cụ thể là đổ nữa lít dầu thơm trên đầu Chúa.
Đổ nữa lít dầu thơm trên đầu. Ừ thơm thì có thơm, Giăng 12: 3 kể lại rằng, “cả nhà thơm nức mùi dầu đó”. Nếu mà Chúa Giê-xu không trong tư thế nằm nghiêng, tay chống đầu khi dự tiệc theo phong tục Do Thái thì có lẽ, số dầu nầy đủ để chảy xuống đến ngực Ngài là cái chắc. Thơm thì có thơm, song chỉ có vậy thôi thì đúng là quá phí phạm. Chính cái chỗ có vẽ như là “phung phí” này mà chỉ có Mary mới làm được mà thôi.
Thật ra, nếu xem kỹ lời Chúa Giê-xu đã nói thì ta sẽ thấy rằng, việc dâng hiến này là nằm trong khả năng của Mary. Đây là việc mà cô ấy “có thể làm được”, chớ không phải là việc “quá sức loài người” đối với cô ấy đâu. Điều khác biệt duy nhất giữa Mary và những người khác có mặt hôm đó, kể cả các sứ đồ là cô ấy “ĐÃ làm điều mình có thể làm được” còn người khác, Giu-đa chẳng hạn, thì không làm (chớ không phải không thể).
Do đó, những gì Chúa muốn ta dâng hiến – dù quý đến đâu – đều nằm trong khả năng của chúng ta. Điều Chúa muốn dù là đứa con trai duy nhất của Apraham (Sáng thế ký 22) hay là số tiền ít ỏi của người Ma-xê-đoan trong thời loạn lạc, khó nghèo (2 Corinh 8: 1-5) đều là những gì ta “có thể làm được” cả. Vấn đề còn lại là ta có dâng hay không, ta có MUỐN hiến hay không mà thôi. Chúa không bao giờ đòi hỏi chúng ta dâng những gì chúng ta không có; Ngài không bao giờ đòi hỏi chúng ta làm những việc mà chúng ta không thể.
Như vậy, điều ta cần phải hỏi chính mình không phải là “tôi có gì để dâng cho Chúa trong mùa Thương Khó, Phục Sinh này hay không?” mà là “Tôi có muốn dâng những gì quý nhất của tôi cho Chúa hay không?” Nếu bạn muốn dâng thì bạn có thể dâng. Bạn có khả năng để làm việc đó.
B.    Đây là thời điểm duy nhất: Khi đổ bình dầu quý trên đầu Chúa, chắc chắn Mary không hề biết rằng đây là cơ hội cuối cùng mà cô có được để phục vụ Chúa. Cô cung hiến vì quý, vì mến, hay vì tôn trọng Chúa chớ làm sao cô biết được rằng cô đang xức xác Chúa trước khi chôn. Và chắc rằng, những người khác trong phòng cũng không ai nghĩ như vậy. Nếu họ đã biết như Chúa biết thì họ đã không oán trách Mary cách nặng nề đến vậy; Nếu họ đã biết như Chúa biết thì họ tiếc gì với Chúa một bình dầu.
“Các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu” có nghĩa rằng, cơ hội để phục vụ Chúa đối với các môn đồ sẽ không còn nữa. Hôm đó là cơ hội cuối cùng. Dù giúp đỡ người nghèo cũng là một công việc quan trọng nhưng nếu không làm hôm đó thì vẫn còn hôm khác. Nhưng nếu hôm đó họ không dâng cho Chúa thì lúc khác họ không thể nào dâng được, dù có muốn cách mấy đi nữa.
Biết bao lần ta bỏ lỡ những cơ hội cuối cùng như thế để cứu một tội nhân, để thăm viếng, giúp đỡ một người, … Ta đã cố tình không vâng theo tiếng phán giục trong lòng để cho đến tận hôm nay, ta vẫn còn ray rứt, vẫn còn chất vẫn lương tâm.
Vì cớ chúng ta, cũng như Mary, không biết khi nào là cơ hội cuối cùng để phục vụ Chúa. Nên “khi có dịp tiện” thì hãy dâng hiến, khi có dịp tiện thì hãy phục vụ, khi có dịp tiện thì hãy tiếp đãi như thể là cơ hội cuối cùng mà mình có được đối với Chúa. Há Kinh Thánh chẳng từng bảo rằng, nhiều người đã từng tiếp đãi thiên sứ vì lòng hiếu khách mà không biết đó sao (Hê-bơ-rơ 13: 2).
II.    Chúa Luôn Đánh Giá Cao Những Còn Người Biết Tận Dụng Cơ Hội Cuối Cùng Để Phục Vụ Chúa
A.    Đối với con người thì hành động của Mary là đáng trách, nhưng đối với Chúa thì hành động đó là đáng khen. Đáng khen vì Mary đã làm một việc tốt cho Chúa. Hành động dâng hiến của Mary thực sự có ý nghĩa đối với Chúa nhưng trong mắt của con người có thể đó là một hành động vô nghĩa, phung phí.
Biết bao lần ta đã “dè xẻn” trong các nghi thức, các nhạc cụ chúc tụng tôn vinh Chúa nhưng lại rất hào phóng cho các bữa tiệc thông công sau các buổi lễ. Ta là những môn đồ có đầu óc rất thực tế như Giu-đa hay đối với chúng ta Chúa Giê-xu không thực sự xứng đáng để ta dâng hiến khoản tiền bằng một năm lương. Những nhạc cụ, âm thanh, áo lễ, hoặc những vật dụng trang trí trong hội thánh là do ngân quỹ chung mua sắm hay là do những cá nhân trong hội thánh cung hiến?
Nếu có một ai đó trong hội thánh dâng hiến khoảng từ 1.000 đến 5.000 đô-la Mỹ hay ringgit Malaysia  để mua sắm hay chi dùng vào một điều gì đó (trang hoàng sân khấu lộ thiên để truyền giảng chẳng hạn), trong một lần duy nhất, thì khi biết chuyện chúng ta có quở trách người, như Giu-đa đã làm với Mary không.
Nếu người đó là con của bạn, là chồng, là vợ của bạn và số tiền đó là tất cả số tiền đang gỡi trong ngân hàng, hoặc là số vốn dành dụm được thì bạn sẽ phản ứng thế nào? Dầu so sánh có vẽ khập khiển nhưng trong hoàn cảnh còn thiếu trước hụt sau của dân sự Chúa như hiện nay thì dễ lắm những lời mà Mary đã nghe khi xưa, cũng còn đây đó xuất hiện giữa vòng chúng ta hôm nay.
Giáng sinh năm 2000, vợ chồng tôi được Chúa dẫn dắt chuẩn bị 10.000 món quà. Đó là những chứng đạo đơn được gói lại như những phần quà. Tổng số tiền cho công việc này từ in ấn, giấy gói, … khoảng chừng 8 triệu đồng. Số tiền đó có thể là không lớn lắm đối với người khác nhưng đối với vợ chồng tôi, quản nhiệm một hội thánh vừa thành lập 4 tháng với 13 người cả lớn lẫn nhỏ, vào thời điểm mà phụ cấp hàng tháng chỉ có 300 ngàn thì là vô cùng, vô cùng to lớn.
Tôi được Chúa hướng dẫn tổ chức cho các bạn thanh niên đi từng đôi và phân phát tất cả số quà này trong đêm 24/12. Những người lãnh đạo trực tiếp của tôi không đồng ý lắm với những gì chúng tôi làm vì cho rằng, chỉ gieo không như vậy mà không kêu gọi tin Chúa thì là phí phạm, vô bổ. Thế nhưng, tôi được Chúa xác chứng bằng Lời Ngài rằng, Người nầy thì gieo, người kia thì gặt, là rất phải. Ta đã sai các ngươi gặt nơi mình không làm (Giăng 4: 37-38). Và rồi Chúa phán trực tiếp trong lòng tôi rằng, “ngươi phải gieo thì mới có gặt, dù là gặt nơi người không gieo”.
Lời đó, ứng nghiệm hoàn toàn vào ngay năm sau 2001, hàng trăm người đã được Chúa cứu vào trong hội thánh của chúng tôi. Rạng sáng ngày 25/12 năm đó, khi tôi đem ly trà đường cho người thanh niên cuối cùng đi phát quà về, lời Chúa trong Giăng 17: 4 đến cùng tôi “Con đã tôn vinh Cha trên đất, đã làm xong công việc Cha giao con làm”. Một cảm giác sung sướng tuyệt trần xâm chiếm lấy tôi, không thể nào diễn tả. Mọi mệt nhọc, vất vã đều tan biến hoàn toàn, công khó của chúng tôi được chuẩn thuận. Còn hạnh phúc nào hơn!
Dù con người có đánh giá thế nào đi nữa thì Mary cũng đã làm được cái việc mà cô có thể làm được. Và Chúa Giê-xu xác nhận rằng, đó là một việc tốt cho Chúa. Thật, ý tưởng Chúa cao hơn ý tưởng con người khác chi trời cao hơn đất (Esai. 55: 9). Đừng đánh giá lễ vật của chúng ta theo thang giá trị của con người mà hãy dâng cho Chúa những gì quý nhất. Hãy làm cho Chúa một việc tốt trong mùa thương khó phục sinh 2013 này.
B.    Hành động dâng hiến của Mary không chỉ được Chúa đánh giá cao ngay lúc đó mà còn được hậu thế lưu danh. Việc làm của Mary không chỉ được lưu danh tại Palestin mà còn tại khắp nơi trên thế giới. Nói cách khác, việc làm của Mary không chỉ được Chúa khen ngợi tại thời điểm đó mà thôi, nhưng như lời Chúa Giê-xu đã nói thì trong khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin lành nầy được giảng ra, việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người.
Việc chúng ta làm cho Chúa, những gì chúng ta dâng cho Chúa – dù nhỏ hay lớn, dù được người đời khen hay chê – thì luôn có ảnh hưởng đến lâu dài khắp trên cộng đồng dân Chúa.
Nhiều người trên thế giới ngày hôm nay muốn trở nên nổi tiếng đã tìm cách tạo xì-căn-đan với những người nổi tiếng hoặc gài bẫy tình, hoặc ám sát hay vu khống, tống tiền, … Mary không đổ bình dầu trên đầu Chúa để được trở nên nổi tiếng. Thật ra, cô cũng không nghĩ rằng việc làm của mình sẽ được hậu thế lưu danh. Cô đơn giản chỉ là muốn làm một điều gì đó cho chính Chúa, người mà cô quý mến. Thế nhưng, những gì cô làm lại được Chúa tưởng thưởng một cách xứng đáng. Có thể nói, việc dâng bình dầu quý này là điều duy nhất mà Mary đã làm được cho Chúa, thế nhưng cô lại trở nên người được nhớ đến khắp thế giới. Thật như Phao-lô đã nói: “Hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu (1Corinhto 15: 58).
Anh chị em yêu dấu, Mary đã làm được cái việc mà cô ấy có thể làm. Mary đã tận dụng được cơ hội cuối cùng để phục vụ Chúa và cô đã làm được một việc tốt cho Chúa. Còn chúng ta thì sao? Có cơ hội phục vụ nào mà bạn đang trì hoãn thưa vâng với Chúa không, có cơ hội dâng hiến nào mà bạn còn cân nhắc thiệt hơn không? Hãy dâng hiến, hãy thưa vâng với Chúa vì có thể đó là cơ hội cuối cùng mà Chúa dành cho bạn trong ngày hôm nay.
MSB