Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

DỊ GIÁO ÂN ĐIỂN (CHỐNG LUẬT PHÁP - Antinominianism)

Ngày nay Dị Giáo Ân Điển đã lan tràn khắp nơi, nhất là các vùng Đông Nam Á phát nguồn từ Singapore bởi ông Joseph Prince, làm cho nhiều hội thánh bị xáo trộn qua việc tranh cãi và chia rẻ. Khi xưa ông Marcion đã phổ biến trong thế kỷ thứ nhì và với cái tên cũ là Tà Giáo Chống Luật Pháp - Antinominianism (Anti- chống lại và Nomos - Luật Pháp).
Đây là một số điều dạy dỗ sai lệch của Joseph Prince trong quyển sách "Destined to Reign" của ông.
1.     Ân điển và pháp luật đối lập với nhau (cùng một học thuyết này được ủng hộ bởi Ông Marcion là kẻ dị giáo trong thế kỷ thứ hai)
2.     Ân điển là một chiều và không công bằng (hạ thấp tầm đức tin và sự vâng lời và hiểu sai về sự Công Bình của Chúa)
3.     Cơ Đốc giáo thụ động, dễ giải không phải nỗ lực (nước thiên đàng ví như nhà trợ cấp phúc lợi thiện nguyện)
4.     Cầu xin sự tha thứ tội lỗi là điều không cần thiết cho "tín đồ"
5.     Môi-se và Chúa Giê-xu đã dạy hai giáo lý đối ngược nhau
6.     Luật pháp mang lại sự lên án (cho kẻ hung ác) và do đó Chúa Giê-xu hủy bỏ nó
7.     Rao giảng về luật pháp làm cho người ta phạm tội nhiều hơn, do đó nó không nên giảng dạy tại nhà thờ bởi vì nó sẽ gây tổn hại cho hội chúng của bạn (thà để cho họ thiếu hiểu biết còn hơn, tôi đoán vậy)
8.     Việc ban cho/xưng công bình có nghĩa là chúng ta là công bình ngay cả khi chúng ta không thật sự là công bình (đang còn phạm tội và chưa ăn năn)
9.     Sự tha thứ là vô điều kiện (Không cần ăn năn tội, không cần sống thánh khiết theo Thánh Linh v.v)
10.  Chúa luôn luôn tức giận trong Cựu Ước và luôn vui lòng trong Tân Ước
11.  Chúa không phán xét các quốc gia về sự gian ác họ
12.  Nếu Đức Chúa Trời đoán phạt, các thành phố và các quốc gia ngày hôm nay, thì Ngài phải xin lỗi Chúa Giê-xu về thập tự giá của Ngài
13.  Các tín hữu không hề bị trừng phạt về tội lỗi của họ
14.  Chúng ta không bao giờ thực sự ngừng phạm tội nhưng Chúa chấp nhận điều đó
15.  Chúng ta không cần có trách nhiệm hơn với Chúa khi chúng ta biết nhiều hơn, chúng ta cũng không phải đối mặt với sự trừng phạt lớn hơn nếu chúng thất bại khi đã được biết sự thật, chúng ta cũng sẽ không đi qua những thử thách lớn hơn hay khó nhọc hơn khi chúng ta đến gần Chúa
16.  Lời của Đức Chúa Trời không tạo ra đức tin, chỉ có Lời của Chúa Giê-xu
17.  Lời của Đức Chúa Trời và lời của Chúa Giê-xu không đồng ý với nhau về một số điều
18.  Cơ Đốc nhân không thể phạm những tội lỗi không thể tha thứ (Một khi đã tin thì đã được cứu đời đời)
19.  Một khi đã được cứu, thì được cứu vĩnh viễn (Không một trường hợp nào người đã một lần tin Chúa có thể bị mất sự cứu rỗi)
20.  Phần giảng dạy của Chúa Giê-xu không áp dụng vì nó là "Cựu Ước" (Họ nói lúc đó Chúa Chưa đổ huyết)
21.  Chúng ta không thể dựa giáo lý từ các sách phúc âm vì lúc đó Chúa Giê-xu chưa sống lại từ cõi chết
22.  Phao-lô là thẫm quyền chính về giáo lý (chớ không phải Chúa Giê-xu) vì ông viết cho hội thánh (Chúa Giê-xu dạy người Do Thái)
23.  Xưng tội đối với các tín hữu là "cởi mở" với Chúa, không phải về sự ăn năn bởi vì tín hữu đã được tha thứ rồi
24.  Mặc dù sách Giăng thứ nhất đã được viết cho hội thánh, chương mở đầu là chỉ cho những người tà giáo Gnostics (Trí huệ giáo) và do đó chúng ta có thể bỏ qua những sự hướng dẫn về việc cần phải thú nhận tội lỗi của chúng ta
25.  Việc xưng tội là không cần thiết bởi vì chúng ta sẽ phải xưng nhận tất cả các tội liên tiếp vì chúng ta phạm tội liên tiếp (suy luận chúng ta sẽ không bao giờ ngừng phạm tội)
26.  Phao-lô không dạy việc xưng tội
27.  Chúa Giê-xu đã chết để cứu chúng ta khỏi giao ước cũ là Cựu Ước (Giao ước cũ được cho là xấu và đã hủy bỏ, không phải giao ước đời đời và lời hứa trong giao ước đó không còn áp dụng)
28.  Chúng ta không những không nên dạy "luật pháp" từ bục giảng, chúng ta chỉ nên dạy ân sủng (mặc dù Tân Ước có 1050 mạng lệnh cho các tín hữu phải tuân theo, chúng ta vẫn nên bỏ qua phần đó)
29.  Sự lên án là gốc rễ sâu xa nhất của tất cả các vấn đề của chúng ta (thực sự lên án được gây ra bởi tội lỗi, vì thế vấn đề sâu sắc hơn là tội lỗi)
30.  Lương tâm là xấu vì nó kết án tội lỗi và sự thất bại (nói cách khác một lương tâm mà HOẠT ĐỘNG thì lương tâm xấu)
31.  Đức Thánh Linh không cáo trách chúng ta về tội lỗi hoặc về sự hình phạt
32.  Đức Thánh Linh chỉ cáo trách(nhắc nhỡ) chúng ta về sự công bình (khi chúng ta phạm tội)
33.  Satan thích Mười Điều Răn
34.  Luật pháp làm cho Phao-lô bị lừa dối trong tội lỗi
35.  Phao-lô vẫn tiếp tục sống trong tội lỗi, nhưng nhận ra rằng ông đã không hề bị lên án bao giờ
36.  Người con hoang đàng không thực sự ăn năn, nó chỉ là lừa gạt cha mình để được ăn uống
37.  Chúng ta không nên nói về sự ăn năn, tội lỗi hoặc sự hình phạt từ bục giảng, chúng ta chỉ nên nói về sự tốt lành của Chúa
38.  Chúa Giê-xu thường xuyên vi phạm luật pháp của Môi-se để giúp những tội nhân
39.  Chúa đã không bảo vệ các tội nhân nổi loạn trong Cựu Ước là những người bị rắn cắn một cách vô điều kiện, nhưng Ngài sẽ bảo vệ những tội nhân nổi loạn ("Tín Đồ") trong Tân Ước một cách vô điều kiện
40.  Chúa bảo Israel đặt Mười Điều Răn trong hòm giao ước để "che giấu" luật pháp dưới chiếc ghế ân điển/thương xót
41.  Áp-ra-ham đã có một giao ước của ân điển, nhưng Môi-se thì có một giao của việc làm là giao ước thấp kém hơn
42.  Cuộc hành trình từ Ai Cập đến Núi Si-nai là một khoảng thời gian của ân điển tinh khiết (50 ngày không có hậu quả cho tội lỗi nhưng khi có luật pháp xuất hiện thì nó phá hoại cái cảm giác "mặc dù đầy tội lỗi nhưng tâm trí hướng đến sự công chính" và luật pháp làm cho họ bị sống dưới sự nguyền rủa)
43.  Ăn năn không liên quan đến sự khóc lóc vỡ lòng (hoặc xưng tội) về tội lỗi, nó chỉ có nghĩa là bạn đã thay đổi tâm trí của bạn về một điều gì đó
44.  Giáo lý về sự ăn năn khỏi tội lỗi không áp dụng cho các tín hữu
45.  Ân điển là một giáo viên nên chúng ta không cần luật pháp
46.  Việc giảng dạy về Ân Điển là phương tiện duy nhất của việc truyền giáo hiệu quả (Không nên đề cập đến luật pháp, sự ăn năn và sự hình phạt tội lỗi)
47.  Phaolô dạy và tin rằng tất cả những giáo lý lệch lạc nói trên
48.  Phaolô chỉ "nháy mắt" với những tội lỗi tại hội thánh Côrinhtô, vì họ đã ở dưới ân điển, mà quở trách tội lỗi của hội thánh Ga-la-ti một cách nghiêm túc bởi vì họ đã dạy về luật pháp
49.  "Trật phần ân điển" không có nghĩa là phạm tội, nó có nghĩa là quay trở lại với luật pháp
50.  Nếu bạn dạy về luật pháp, bạn là một "người làm hài lòng loài người" (!)
51.  Việc kiêng ăn là không cần thiết và nó chỉ có trong Tân Ước bởi vì những người thích hoặc đam mê về việc kiêng ăn cho thêm nó vào trong các bản sao sau này.
52.  Khi Satan cám dỗ Chúa Giê-xu "Hãy biến những viên đá này thành bánh", Nó thực sự quyến dụ Chúa Giê-xu để có được dinh dưỡng từ "luật pháp" thay vì tin tưởng vào tình yêu của Chúa (!)
53.  Ân điển là tốt ... Ân điển là tốt ... luật pháp là xấu ... luật pháp là sự rủa sả ... v.v
Họ còn dạy rằng thật ra Chúa vẫn OK với Adam khi ông phạm tội, Ngài vẫn tìm ông và nói chuyện với ông cho nên tội lỗi không phải thật sự là vấn đề hoặc sự cản trở trong mối quan hệ với Chúa mà là chính cảm giác guilty/hổ thẹn mới khiến cho Adam trốn tránh Chúa. Họ cũng cho rằng huyết của Chúa Giê-xu không làm cho chúng ta ngưng phạm tội nhưng nó xóa đi cái cảm giác bị tội lỗi cáo trách.
Tôi (Enoch Nguyen) có sửa và thêm lời vào trong các phần hoặc đơn "()" hoặc gạch chéo "/" để giúp các bạn hiểu thêm suy luận của họ.
Nhờ các bạn share bài này trong tất cả các diễn dàn/nhóm Cơ Đốc để cảnh báo cho nhiều người.

Theo facebook Enoch Nguyen

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

NGƯỜI ĐƯỢC CHÚA TRỌNG DỤNG

Được tín nhiệm hay được chủ tin dùng là một vinh dự hay là niềm tự hào của một người làm công. Được Thiên Chúa tin dùng hay trọng dụng lại càng là niềm ao ước đối với tất cả những ai đang hầu việc Chúa. Thế nhưng, đâu là đặc điểm của một người được Chúa trọng dụng; đâu là chân dung của một người được Chúa tin dùng?
Chúng ta sẽ cùng học biết điều này qua phần chức vụ của tiên tri Elise, được ký thuật trong sách Các Vua thứ hai chương 2: 1-18
I.     Trung Tín Với Sự Kêu Gọi Của Mình
Sự kêu gọi của Elise: hầu việc Eli mà nguyên văn là làm “kẻ rót nước trên tay Eli” (II Vua. 3: 11). Elise được kêu gọi làm người hầu hạ, phục vụ cho tiên tri Eli. Nói theo ngôn ngữ ngày nay là đệ tử, là Timothe hay làm người phụ tá.
Như vậy, trung thành với sự kêu gọi của mình cũng có nghĩa là trung thành với sự kêu gọi của người khác. Chúa Giê-xu đã từng phán trong Tin Lành Giăng 12: 26 rằng, “Nếu ai hầu việc ta, thì phải theo ta, và ta ở đâu, thì kẻ hầu việc ta cũng sẽ ở đó”.
Phân đoạn KT này cho chúng ta biết rằng, Eli đã biết trước việc mình được Chúa cất lên; các môn đồ của các tiên tri cũng biết điều đó và chính Elise cũng biết. Thật đúng như trong A-môt 3: 7 đã nói: “Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri”. Mọi người đều biết rằng hôm đó là ngày cuối cùng của Eli, là thời khắc cuối cùng trong chức vụ của ông.
Trung thành với một chức vụ đang độ sung mãn, đang độ thành công; trung thành với một hội thánh đang phấn hưng, đang dư dật tiền bạc, … thì ai cũng có thể trung thành được, nhưng trung thành với một chức vụ đang vào thời kỳ cuối, trung thành với một hội thánh đang trong kỳ khô hạn thì không phải ai cũng làm được.
Châm. 20: 6 “Phần nhiều người khoe khoang sự nhân từ mình; nhưng ai sẽ tìm được một người trung thành?”
Khi Đức Chúa Giê-xu nằm trong huyệt mộ, các sứ đồ tản lạc, các môn đồ trốn chạy nhưng có một số phụ nữ vẫn giữ lòng trung thành với Ngài. Họ trung thành với thầy của mình, dù người ấy giờ đây chỉ còn là một xác chết mà thôi.
Trung thành với những người mình thích, mình quý, mình kính; trung thành với những người còn có lợi cho mình thì ai cũng sẵn sàng để trung thành. Còn trung thành với những người mà mình không thích, không trọng;  gắn bó với những người chỉ nhờ vả, chỉ xin xỏ mình thôi thì phải dụng đến đức tin mới có thể trung thành, mới có thể gắn bó được.
Có thể có một vài thành viên hoặc một vài người hầu việc Chúa trong hội thánh của bạn mà bạn không đồng tình với cách làm việc hoặc cách ứng xử của họ, nhưng vì họ là một phần không thể tách rời được của Hội Thánh mà bạn đang thuộc về, nên bạn phải học để gắn bó với họ, tôn trọng họ và cộng tác với họ.
Trung thành với một sự kêu gọi đang kỳ khô hạn, son sẽ; trung thành với một chức vụ đang vào giai đoạn cuối là một việc khó. Phải nói là rất khó. Nhưng khó Chúa mới chọn chúng ta.
Nếu Elise không đi cùng Eli đến Giô-đanh mà đồng ý chia tay thầy ở Ghinh-ganh, ở Bê-tên hay ở Giê-ri-cô thì cũng không ai trách ông được. Vì chính thầy muốn thế mà. Kinh Thánh ký thuật lại rằng, ba lần Eli nài nĩ với học trò của mình “ta xin người hãy ở lại đây”.
Về lý thì Elise đã hoàn thành nhiệm vụ - rót nước trên tay thầy. “Những gì cần làm tôi đã làm và việc đó … không phải phận sự của tôi” – Elise có thể nói như thế. Hoặc giả, Elise có thể đứng cách xa như môn đồ của các tiên tri bên này sông Giô-đanh mà chờ đợi giờ của thầy mình chấm dứt. Không, Elise đã không nói như thế và cũng không hành động như thế. Ông là một tôi tớ trung thành. Ông trung thành với thầy của mình cho đến phút cuối cùng cuộc đời người. Trung thành không đơn giản là làm tròn bổn phận mà là thể hiện cái tình – tình đối với Chúa và đối với nhau.
Bất chấp những lời nói của thầy có thể làm cho mình nản chí, bất chấp những lời khuyên can của các bạn đồng lao, Elise đã đi với thầy của mình cho đến lúc cuối cùng. Trung thành là như thế.
Có ai đó trong chúng ta đang ấm áp tư tưởng ra đi; có ai đó trong chúng ta đang ấm áp tư tưởng “rời bỏ cuộc chơi”, thì khá nhớ rằng, nếu ta không trung tín với chức vụ của người thì ai dám sẵn sàng gắn bó, sống chết với ta. Có thể người lãnh đạo của anh chị em không có lời khuyên như Eli đã làm đối với Elise, nhưng lời nói của họ cũng đã làm anh em nhụt chí. Có thể những cuộc trao đổi, thông công với bạn đồng lao đã tác động không nhỏ trên anh chị em, nhưng dù gì đi nữa thì chúng ta cũng cần phải nhớ rằng, mình được kêu gọi để làm gì và làm điều đó với ai.
Hãy làm cho trọn điều mà Đức Chúa Trời đã ủy thác. Khá nhớ rằng, trung thành là điều mà người ta trông mong nơi người quản trị. Và trung thành cũng là phẩm chất của một môn đồ Đấng Christ mà sứ đồ Phao-lô khuyên Timothe nên tìm kiếm nơi thế hệ kế thừa.
Bạn có đang trung tín với sự kêu gọi của Chúa trên đời sống của mình? Bạn có đang trung thành với chức phận của những người lãnh đạo thuộc linh Chúa đặt để trên bạn? – Nếu có, thì việc bạn được Chúa đại dụng chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.
Bao nhiêu người trong chúng ta mong muốn trở nên Elise cho dân tộc Việt Nam? – Hãy luôn là người trung thành: trung thành trong hôn nhân của mình, trong phận sự của mình và trung thành đối với chức phận của những người khác, nhất là những người Chúa đặt để trên mình.
II.   Lòng Đói Khát Thuộc Linh Mãnh Liệt
Elise đã chứng tỏ được lòng trung thành của mình đối với sự kêu gọi của Chúa, mà cụ thể là trung thành với chức vụ của Eli. Eli nhìn thấy điều đó. Không điều gì có thể khiến Elise bỏ cuộc. Phước thay cho những người lãnh đạo có được những người phụ tá, những đệ tử trung thành với chức phận của mình như thế.
Khi được thầy yêu cầu: “hãy xin điều gì ngươi muốn ta làm cho ngươi”, Elise ngay lập tức trả lời: “cho con gấp đôi Thần của thầy”.
“Quá tham lam, ngươi là ai kia chớ, trò không hơn thầy, bằng thầy đã là quá lắm rồi. Đằng này lại xin gấp đôi !”
Khác với Salomon, Elise không cầu xin sự khôn ngoan, ông cũng không cầu xin chức danh, hay nhờ thầy giới thiệu, gởi gắm mà ông xin quyền năng đã từng hành động trong chức vụ của thầy mình. Elise xin sự xức dầu. Nhưng không chỉ là sự xức dầu mà là sự xức dầu gấp đôi. Đó là sự đói khát. Đói khát Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Thế nhưng, ngày hôm nay trong hội thánh Chúa, kể cả hội thánh Ngũ Tuần Ân Tứ, nhiều người không còn đói khát Chúa, không còn đói khát quyền năng của Thánh Linh Đức Chúa Trời.
                         Châm Ngôn 27: 7 chép“Kẻ no nê giày đạp tàng mật dưới chân mình”. No nê mà giày đạp thì còn hiểu được, đằng này thiếu đói mà giày đạp thì đúng là đã tới hồi mạt vận rồi.
Không ai trong chúng ta là không tin rằng Chúa còn làm phép lạ; không ai trong chúng ta không tin rằng Chúa còn chữa lành cho người bệnh (ốm) qua việc đặt tay cầu nguyện và hầu hết ai trong chúng ta cũng sẵn lòng bước ra để người khác, nhất là các tôi tớ Chúa cầu nguyện cho mình. Thế nhưng, không phải ai cũng còn tin quyết rằng Chúa muốn chữa lành cho mình; không phải ai cũng còn tin quyết rằng, khi mình đặt tay cầu nguyện cho người bệnh thì người ấy sẽ được lành.
Nhưng có lẽ nghiêm trọng hơn tất cả là còn quá ít người khao khát, dốc lòng tìm kiếm ân tứ này để phục vụ cho bầy chiên. Đây chính là lý do mà phép lạ, dấu kỳ ngày nay hiếm khi xuất hiện trong Hội Thánh Chúa; Đó cũng chính là lý do mà phần lớn những vị quản nhiệm Hội thánh ngày hôm nay có xu hướng “tìm chỗ để gởi con”, dầu ai cũng biết rằng giải cứu, cầu nguyện cho người bệnh là những ân tứ phổ thông, ít nữa là đối với “các trưởng lão của Hội thánh” (Gia-cơ 5: 14)
Elise không chỉ muốn Thánh Linh Chúa từng hành động trong thầy mình tiếp tục hành động trong mình mà ông còn muốn Thánh Linh đó hành động bội phần hơn, tức là với cấp độ, với tầm mức vượt trỗi hơn. Nói cách khác, ông muốn có một chức vụ thành công gấp đôi thầy của mình. Elise có một tham vọng lớn lao, nhưng không là tham vọng ích kỷ mà là tham vọng làm vinh danh Chúa giữa cộng đồng dân Chúa đang dần lìa bỏ Ngài.
Bạn có còn vui thích trong việc chinh phục linh hồn tội nhân hay là bạn thỏa lòng với 15-20 con chiên mỗi tuần trung tín nhóm lại ? Bạn có còn muốn mở rộng chức vụ của mình sang làng, xã bên cạnh hay đang tự nhủ trong lòng rằng, “miễn đủ ăn đủ mặc là thỏa lòng rồi”?
Bạn đang ngồi than thân, trách phận; bạn đang phê phán, chỉ trích sự sa sút, sự vô tín, xác thịt của bà mục sư này, ông truyền đạo khác hay đang hạ mình trước mặt Chúa mà ăn năn kêu khóc cho chính tình trạng thuộc linh suy kiệt của mình?
Nếu hôm nay, người lãnh đạo của anh em hỏi anh em như Eli đã hỏi thì chúng ta sẽ trả lời người thế nào? – “Xin thầy cho em cái điện thoại di động, chiếc xe máy, … “ hay chúng ta sẽ tỏ bày cho tôi tớ Chúa lòng khát khao bỏng cháy về “các sự ban cho thiêng liêng”?
Có thể có người trong anh em có suy nghĩ này: “Eli thì còn có gì đó để cho chớ còn ông thầy của tui đâu còn gì mà xin”.
Nên nhớ rằng, điều Elise xin không phải là điều Eli có. Eli có thể chuyển giao sự xức dầu cho Elise nhưng còn chuyển giao gấp đôi thì là vượt quá khả năng của người. Bởi vì ta không thể cho người khác điều mà ta không có. Đây chính là lý do mà Eli nói rằng: “ngươi đã xin một việc khó”.
Có thể một số người ngày hôm nay không hiểu được điều này nên đã quay lưng lại với các ân tứ Thánh Linh; nhiều tín hữu và thậm chí nhiều người hầu việc Chúa Ngũ Tuần không còn tin vào việc cầu nguyện đặt tay chuyển giao sự xức dầu, và tệ hơn nữa còn nhạo cười trước việc ai đó nói tiên tri.
Nhiều anh em chúng ta trong các hội thánh truyền thống trong ngoài nước đang được Chúa thăm viếng; họ vui mừng trong việc nói tiếng lạ và tập tành vận hành các ân tứ Thánh Linh. Trong khi đó, chúng ta những người Ngũ Tuần lại trở nên coi thường và thậm chí là chối bỏ quyền phép siêu nhiên đó.
Anh chị em ơi, để có được điều mà chúng ta ngày cho là quá đỗi bình thường như báp-têm Thánh Linh, ân tứ Thánh Linh, tức là những lẽ thật về Đức Thánh Linh thì các tôi tớ Chúa đã phải chịu kỷ luật, bị rút phép thông công, bị liệt vào hàng điên khùng, bị cho là tà giáo. Đừng đánh mất di sản vô giá mà Đức Chúa Trời ban cho hội thánh chúng ta.
III.  Sẵn Sàng Trả Giá Để Đạt Được Điều Mình Ước Mong
Mọi sự đều có cái giá của nó. Thế nhưng, có rất nhiều người mong ước song lại có ít người sẵn sàng trả giá.
                        Cái giá phải trả đối với Elise là gì? Nếu ngươi thấy lúc ta được cất lên. Nói cách khác, nếu ngươi học biết cách Thánh Linh hành động hay nếu ngươi tập chú vào chính Chúa. Nhìn lên.
Ai trong chúng ta cũng biết làm thế nào để đầy dẫy sự xức dầu, đầy dẫy sự sống của Chúa. Ai trong chúng ta cũng biết được giá trị của sự cầu nguyện, năng lực của sự kiêng ăn, của việc nuôi mình bằng lời Chúa, … nhưng bao nhiêu người trong chúng ta còn biệt riêng thời giờ để làm việc đó, bao nhiêu người trong chúng ta sẵn lòng đáp ứng những đòi hỏi của Chúa để từng trãi được những điều mình bỏng cháy khát khao.

Elise đã nhận được chiếc áo choàng của Eli, còn bạn và tôi thì sao?

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

THIÊN MỆNH & NHÂN ĐỊNH

Ngẫm hay muôn sự tại trời,
trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào,
chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.
Có tài mà cậy chi tài,
chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
(Trích trong Truyện Kiều, câu 3241-3252).
Những câu thơ trong đoạn kết của Truyện Kiều được trích dẫn ở trên hiển hiện hai ý niệm Thiên Mệnh cũng như Nghiệp Báo – hai triết thuyết chủ đạo của Nho Giáo và Phật Giáo. Trường hợp của Thúy Kiều có thể chỉ là một câu chuyện văn chương, một phương tiện để diễn tả, chuyên chở quan điểm riêng của đại thi hào Nguyễn Du nhưng trong đời sống thực tế thì cũng có rất nhiều những trường hợp tương tự như của Thúy Kiều, hoặc thương tâm hơn nữa ở mọi thời đại. Thiên Mệnh hay Thiên Định là ám chỉ một sự việc do trời hay do quy luật của vũ trụ sắp đặt trước. Còn Nghiệp là hành động có tác ý, hay hành động phát sinh từ tâm được thể hiện qua hành động (Thân nghiệp), ngôn ngữ (Khẩu nghiệp) và tư duy (Ý nghiệp).  Nghiệp do mình tạo ra rồi trở lại chi phối chính mình. Nghiệp có thể được hiểu là ý chí tự do của con người sắp đặt và quyết định sự việc hay còn được gọi là Nhân Định [1]. Như vậy, quan điểm của Nguyễn Du là vừa có Mệnh lại vừa có Nghiệp; vừa có Thiên Định mà cũng vừa có Nhân Định trong đó.
Thế nhưng giữa Mệnh và Nghiệp hay giữa Thiên Định và Nhân Định thì điều gì đóng vai trò quyết định: Thiên Chúa/Trời/vũ trụ lập trình mọi sự kiện, mọi biến cố (thiên định), hay con người ta tự quyết định lấy số mệnh của mình (nhân định), hay là… theo tỉ lệ năm - năm? Trong suốt chiều dài lịch sử đây là một câu hỏi đau đầu, một vấn đề rất gai gốc liên hệ đến mọi tôn giáo, mọi triết thuyết, mọi khía cạnh nhân văn, xã hội, luật pháp, đạo đức v.v… Có vô số những lời giải đáp, có vô số những câu trả lời, đưa đến vô số những quan điểm và nhận định hoàn toàn trái ngược nhau. 
Trong sự hiểu biết giới hạn của cá nhân, người viết cố gắng trình bày những suy luận của mình về mối tương quan giữa quyền tự do của con người với sự tể trị của Đức Chúa Trời trên cơ sở khổ thơ Kiều đã được chọn.
Dường như mọi dân tộc trên thế giới, kể cả tại các nước Ả Rập, đều tin tưởng nơi thuyết “thiên định/định mệnh”, tức là họ tin rằng mọi sự xảy ra trong cuộc đời của mỗi con người trong vũ trụ này đều do bàn tay sắp xếp của một “Ông Trời”. Nhưng trong số đó, có lẽ đại đa số người Việt Nam tin vào thuyết này mạnh mẽ hơn. Thậm chí đến khi ăn, gắp miếng thịt đưa lên miệng, chẳng may miếng thịt rớt xuống bát, cũng vội cho là ... ý trời –  “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định”! Xuất phát từ bối cảnh văn hóa và tín ngưỡng như thế, nên có lẽ sẽ là không quá lời khi nói rằng một số không nhỏ Cơ-đốc nhân Việt Nam tin có số trời. Niềm tin này ẩn trong vô thức bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian về luật nhân quả. Qua thời gian nó lồng vào niềm tin “Chúa Quan Phòng” một cách rất tự nhiên. Họ tin có số mệnh vì một sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng do Chúa định (Mathiơ 10: 29-31).
Cũng có nhiều Cơ-đốc nhân không tin vào số mệnh nhưng lại không thể làm sáng tỏ vài sự kiện được nêu ra trong Thánh Kinh như việc Giuđa phản bội chẳng hạn. Vì Chúa Giê-xu đã nói trước những gì xảy ra (Mathiơ 26: 24) , nên họ thắc mắc: “Phải chăng hành động của Giuđa Ích-ca-ri-ốt cũng nằm trong chương trình cứu rỗi đã được tiền định? Phải chăng Giuđa chỉ là nạn nhân của một định mệnh cũng như Thúy Kiều phải chịu số kiếp tiền định “thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần”?
Trước hết, chúng ta hãy học hỏi khái niệm tiền định và sự thần hựu của Đức Chúa Trời qua những biến cố được ghi trong Thánh Kinh. Rõ ràng là trong Kinh Thánh – cả kinh Cựu Ước lẫn kinh Tân Ước – đầy dẫy những ý tưởng, những hình ảnh và những lời xác chứng rằng, Đức Chúa Trời là Đấng định đoạt mọi sự việc xảy ra hay nói theo ngôn ngữ của Nguyễn Du là “muôn sự tại trời”. Chúa sắp đặt mọi sự, hành động trong mọi sự và chắc chắn sẽ làm thành mọi sự: Ta tuyên bố sự cuối cùng từ buổi ban đầu,Ta tuyên bố từ thời cổ đại những việc chưa xảy ra. Ta phán: Mục đích của Ta sẽ đứng vững, Ta sẽ làm tất cả những gì Ta đẹp ý… Điều Ta đã phán, Ta sẽ hoàn thành, Điều Ta đã định, Ta sẽ thực hiện” (Esai 46: 10-12). Bởi vì Chúa thành tín đối với những mục đích mà Ngài đã phán truyền, nên việc tìm cách chống cải lại mệnh trời chỉ là vô ích: “Vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã toan định, thì ai bãi đi được? Tay Ngài đã dang ra, thì ai day lại được?” (Esai 14: 27)[2]. Chính vì vậy, nên hễ trời đã “bắt phong trần phải phong trần; cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Ai trong chúng ta lại chẳng muốn mình thành đạt và có một cuộc sống sung túc. Thế nhưng, có người thì thành công, đạt được mục đích mong muốn một cách rất thuận lợi và dễ dàng, trong khi đó người khác thì "tận nhân lực" mà vẫn không thể nào “tri thiên mệnh” và còn luôn gặp những khó khăn trở ngại ngoài ý muốn.
Đến đây, chúng ta phải nêu lên câu hỏi rằng, phải chăng Đức Chúa Trời ngăn cản, hạn chế, nếu không muốn nói là tước đoạt hoàn toàn tự do của con người? Mà nếu là như thế thì Thiên Chúa đã làm tổn thương đến phẩm giá cao quý của con người – vì con người chỉ thực sự xứng đáng là người khi có một cuộc sống hoàn toàn tự do mà thôi!
Rõ ràng, một số không ít các điều răn của Chúa được xem như là những ngăn cấm: CHỚ làm điều này, CHỚ làm điều nọ, … khi ấy Thiên Chúa chẳng khác nào viên cảnh sát giao thông. Mà ngay cả những điều răn mang hình thức tích cực, khuyến thiện, như: HÃY làm điều này, HÃY làm điều nọ… cũng được xem như là hạn chế tự do của con người, vì con người buộc phải hướng về một cái THIỆN do Đức Chúa Trời áp đặt, chứ không phải do chính con người mình tự thiết định ra.
Nhưng thế nào là tự do? Trong đời sống hàng ngày có vẻ như ta rất tự do. Ta muốn đi, đứng, nằm, ngồi, hay làm bất cứ việc gì đó, tất cả là do quyết định của ta, tức là do ý chí của ta. Nhưng có đôi khi ta lại thấy dường như không phải vậy. Ngay cả đối với bản thân ta nhiều khi – và oái ăm thay là rất nhiều khi – ta chẳng có quyết định gì được cả. Ta không muốn già, không muốn bệnh, nhưng cơ thể vẫn cứ già, cứ bệnh. Hoặc ta rất muốn có đủ khôn ngoan để bươn chãi với đời, hoặc ta rất muốn hoàn tất một dự định, hoặc ta rất muốn thành đạt; nhưng muốn là một chuyện, còn có thực hiện được không lại là một chuyện khác. Cầu thủ được phân công đá quả phạt đền rất muốn sút vào khung thành đối phương, tất cả cổ động viên của đội bóng ngồi trên khán đài đều muốn như thế, nhưng muốn là một chuyện, còn bóng có đi vào lưới hay không đó là chuyện khác. Rõ ràng là “Việc toan liệu của lòng thuộc về loài người; Còn sự đáp lời của lưỡi do Đức Giê-hô-va mà đến!” (Châm ngôn 16: 1).  
Nói đến tự do, người ta thường đề cập đến hai kiểu tự do: tự do bên ngoài hay tự do ngoại tại và tự do bên trong hay tự do nội tại. Tự do bên ngoài thường được hiểu như là không bị bất cứ một cái gì bên ngoài cản trở, muốn làm gì thì làm: tôi muốn nằm ngủ hay muốn cầu nguyện hoặc muốn vào quán bar nhậu nhẹt, … đều được, không bị ai ngăn cấm, không bị ai cản trở cả, … thế là tôi có tự do bên ngoài. Theo nghĩa này thì một dòng nước chảy xuôi từ nguồn ra biển không bị cản trở; một nồi nước đun sôi, hơi nước bốc lên không bị nắp vung chặn lại… cũng có thể xem như là được tự do bên ngoài. Và một người sống buông thả theo dục vọng, không bị điều kiện vật lý hạn chế, không bị luật lệ xã hội ngăn cấm, cũng được xem như là có tự do bên ngoài. Muốn có loại tự do này, con người phải đấu tranh hoặc về phương diện kỹ thuật hoặc về phương diện chính trị, xã hội.
Về loại tự do bên trong thì có nhiều triết thuyết phủ nhận rằng con người không có thứ tự do này, vì con người cũng như các vạn vật khác đều do luật tất định hay mặc định (default) chi phối hoàn toàn. Chắc chắn là chúng ta có bị quy trình hóa. Anh thích đàn bà, chị thích đàn ông, là một quy trình hiển nhiên. Thế nhưng, người ta vẫn nghĩ là mình có tự do chọn lựa. Những anh ‘ba phải’ thì cho là có tự do chọn lựa, nhưng tự do đó bị hạn chế trong một số chọn lựa đã được “lập trình” sẵn. Người viết nghĩ rằng khi nói “tôi chọn” thì vấn đề nằm ở cái “tôi” nhiều hơn là sự “chọn”. Cái tôi chỉ là một tập hợp do những nhân duyên phức tạp cấu tạo nên, vì thế sự chọn lựa không thể là gì khác hơn là kết quả của những nhân duyên ảnh hưởng vào nó. Vì thế, sứ đồ Phao-lô đã nói: “tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà là chính Chúa sống trong tôi”. Tức là sự lựa chọn của tôi trong cuộc sống tùy thuộc những Quy Luật kết tụ trong điều mà ta gọi là Ý Chúa.
Ở đây ta đi từ giả sử là con người CÓ thứ tự do bên trong này để xem như vậy thì Thiên Chúa có cản trở hay tước đoạt tự do này của con người hay không.
Nhưng tự do này là gì? Là con người khác hẳn các vật khác ở chỗ con người có khả năng khởi đầu tuyệt đối, không bị mặc định bởi bất cứ cái gì trước đó, ngay cả đối với chính mình trong quá khứ cũng không. Tự do này không phải là ở chỗ muốn gì làm nấy, mà là ở chỗ: có thể muốn cái gì tự mình khởi điểm ngay trong hiện tại chứ không có ngoại vật mà cũng không có quá khứ bản thân tất định.
Thứ tự do này (nếu có) chính là cái làm cho con người vượt lên trên tất cả mọi loài gần như sánh ngang với Đức Chúa Trời. Vì sự tự do này làm cho con người có khả năng sáng tạo (nghĩa là làm ra cái mới hoàn toàn, không có cái gì có trước làm nên cả, chẳng khác gì Chúa sáng tạo từ hư không). Vì vậy, có người bảo rằng Đức Chúa Trời tạo nên con người theo hình ảnh của Ngài tức là tạo nên con người tự do theo nghĩa này. Mà quả vậy, ta sẽ thấy ngay cả sự toàn năng của Đức Chúa Trời cũng phải bó tay trước sự tự do của con người, và rồi sự chí ái của Ngài cũng đành bất lực trước sự tự do của con người, khi mà con người trả lời “KHÔNG” trước ân sủng của Tình Yêu Thiên Chúa.
Bây giờ, chúng ta thử xét xem Đức Chúa Trời có hạn chế sự tự do bên ngoài của con người không? Sở dĩ chúng ta có cảm tưởng Đức Chúa Trời hạn chế, tước đoạt tự do bên ngoài của con người, là vì chúng ta thấy rằng nhiều ước muốn của mình bị các điều răn cản trở. Chúng ta phải nhìn nhận rằng vì những thiếu sót sai lầm trong nền giáo dục mà các “điều răn” của Thiên Chúa – đối với một số người chưa trưởng thành đủ – còn mang một bộ mặt áp chế, thường kèm theo sự hăm doạ. Nhưng thực ra mà nói, trong một giai đoạn nào đó, hình thức “răn đe” đôi khi cũng cần thiết và hữu ích (vì trong chúng ta, ai có lòng thành thực khiêm tốn mà lại không nhìn nhận rằng, dẫu đến lúc “đầu râu tóc bạc” rồi, mà có khi chúng ta vẫn còn “sợ ăn đòn” – thứ rào cản cuối cùng giúp ta khỏi bị cơn lốc dục vọng lôi cuốn vào vực thẳm sa đoạ) để dần huấn luyện con người đi đến chỗ làm chủ lấy chính mình ngõ hầu tự mình lựa chọn và trung thành với nấc thang giá trị làm tiêu chuẩn cho cuộc sống, để trở nên người tự do, bên ngoài không bị ngoại vật chi phối, bên trong không bị dục vọng lôi cuốn nhận chìm. Mới nhìn qua thì hơi mâu thuẫn, nhưng mục đích của răn đe, chính là để hướng dẫn con người từ từ tiến lên trình độ tự điều khiển chính mình không cần ai răn đe nữa. Tại sao như thế? Chính là vì con người có tự do (bên trong) vậy!
Chúng ta có thể nói như thế này: Tất cả vạn vật trừ con người ra đều đạt tới kết cuộc (the end) của mình, thể hiện được chính mình một cách trọn vẹn tuyệt hảo vì chúng đều do luật mặc định chi phối: một tảng đá, trọng lượng bao nhiêu đó, nằm trên một mặt nghiêng với một độ dốc bao nhiêu đó, thì nhất định sẽ lăn xuống với một tốc độ nào đó, và sẽ ngừng ở một điểm nhất định nào đó, vào một thời điểm nào đó. Một nụ hoa nào đó, với độ nắng mưa nào đó, đã được vun xới, bón phân với mức độ nào đó, thì nhất định sẽ nở ra như thế nào đó, và cuối cùng sẽ tàn rụng lúc nhất định nào đó… Nhất nhất mọi sự đều tuyệt hảo, không sai một li, một tấc nào cả! Có lẽ vì vậy mà khi tạo nên mọi sự - trừ con người, Đức Chúa Trời đều thấy là “tốt lành”, vì tất cả đều răm rắp hiện ra trong sự hữu hình của mình cách vẹn toàn, hoàn hảo đúng y như quy luật do bản chất của mình,  thể hiện chính mình một cách tuyệt mức, không hơn được mà cũng không kém được. Nhưng có một điều là chúng không tự thể hiện chính mình, mà hoàn toàn bị thể hiện, bị chi phối theo luật mặc định! Vì vậy, chẳng ai khen một trụ cầu chịu đựng được sức nặng hàng tấn, cũng chẳng ai chê một chiếc đòn gánh gãy vì quá yếu không kham nổi một trọng lượng quá lớn, chẳng ai cười một bông hoa nở muộn, hay chẳng ai hoan hô một chồi non mọc sớm v.v… Cũng vì vậy mà Đức Chúa Trời chẳng phải răn đe khuyến khích, mời mọc hay hăm doạ gì cả, hay không ai mất công hô hào hoặc đe doạ để cho một cội mai vàng nở đúng ngày xuân.
Thế nhưng, với con người thì khác hẳn! Một mặt con người cũng chỉ đạt được kết cuộc của mình, thể hiện được chính mình bằng cách sống đúng theo bản tính trung thực, đích đáng của mình – tức là sống đúng theo phẩm giá con người. Tức là cũng phải theo những quy luật phù hợp với bản tính, với kết cuộc của mình mới đạt được hạnh phúc đích thực của mình, cũng tương tự như vạn vật đều tuân theo các quy luật tự nhiên vậy! Nhưng phước thay, vinh thay, hoặc là khốn thay – những quy luật của con người, không mặc định chi phối con người, mà phải do con người tự nhận thức lấy, tự chọn lấy và tự thực hành lấy! Biết đâu chẳng phải vì vậy mà Đức Chúa Trời đã thấy là “rất tốt lành” sau khi dựng nên con người đó sao (?)
Con người có khả năng tự chọn lấy, tự làm lấy những điều ngược lại với quy luật của mình, và như thế tự đi lệch ra ngoài con đường đúng đắn, và hụt mất cứu cánh hay kết cuộc (the end) của mình, tự huỷ lấy mình, tự đánh mất chính mình: mất linh hồn là vậy đấy! Thiên Chúa vì không muốn con người bị mặc định – và mặc định thì vô tri, vô giác, đâu còn là con người nữa – mà để cho con người hoàn toàn tự do, tự quyết định lấy, tự lựa chọn lấy, để hoặc là tự thể hiện chính mình, đạt được kết cuộc – hạnh phúc thật của mình, hoặc là tự đánh mất, tự đày ải mình, tự mình làm hụt mất kết cuộc hạnh phúc của mình. “Ta đã đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự rủa sả. Vậy, hãy chọn sự sống, hầu cho ngươi và dòng dõi ngươi được sống” (Phục truyền 30: 19)
Những giới hạn của Thiên Chúa là những mũi tên chỉ đường cho con người biết đâu là đường sống, còn theo hay không, Thiên Chúa nhường quyền hoàn toàn cho con người TỰ DO quyết định. Những điều răn chẳng những không vi phạm đến tự do con người, mà còn giúp cho con người nhận thức đúng để TỰ mình chọn lấy con đường sống hay con đường chết một cách có ý thức: Tiếng nói lương tâm không phải là một mệnh lệnh độc đoán áp chế, trái lại đó là lời cảnh tỉnh, là tiếng chuông báo động, là mũi tên, bảng hiệu vẽ đường chỉ lối, là lời mời mọc ân cần, âu yếm nhưng nghiêm túc đứng đắn (chứ không phải đường mật quyến rũ, dụ dỗ) để con người tự do mà chọn lựa; con người có toàn quyền tự bịt mắt, bưng tai, ngoảnh mặt lại đi vào chỗ chết mà!
Chẳng những Thiên Chúa không cưỡng bức ép buộc, mà Ngài cũng không hề doạ dẫm: Ngài chỉ nói rõ cho biết là hậu quả sẽ ra sao, rồi mong con người tỉnh ngộ mà thôi. Nếu trong Thánh Kinh có những lời xem ra như doạ nạt, thì cũng như mẹ doạ con vì thương con, chứ bản chất là những lời thiết tha nài nỉ van xin con người hãy tự mình trở lại, của một thân vị có tự do đến một thân vị có tự do, tôn trọng chờ đợi lời đáp trả trong tự do tuyệt đối chứ không hề có gì là cưỡng ép cả! Và có thể nói cả chương trình Cứu rỗi: lựa chọn dân Do Thái, gởi các tiên tri, gởi chính Con Một của Ngài thành lập Hội Thánh cho đến ngày tận thế, cũng chỉ là những phương thế để gởi lời mời gọi tha thiết đến người tình phụ đã tự do chối bỏ Tình Yêu! Ai đã yêu cũng đều biết tình yêu chỉ có thể có được trong tự do mà thôi, vì nếu phạm đến tự do thì là cưỡng hôn chứ đâu còn có tình yêu nữa!
Mari có một vị trí quan trọng trong chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nhưng rõ ràng Mari không phải là “nạn nhân” của một định mệnh. Thiên Chúa sai Gáp-ri-ên đến thông báo cho Mari thánh ý của Ngài nhưng câu trả lời “xin vâng” hay “xin không” là tùy ở Mari. Thánh Kinh cho chúng ta thấy Chúa Giê-xu không hề chấp nhận hành động của Giuđa Ich-ca-ri-ốt. Há chẳng phải Ngài đã cảnh báo nhiều lần về sự sai lầm của người đó sao (Mathiơ 26:21-25). Nếu Giuđa là công cụ của cái gọi là số mệnh, Chúa Giê-xu đã không phản ứng như thế.
Đọc truyện Kiều, từ bậc trí thức đến kẻ thường dân đều cho là phản ánh tích cực nhất về triết thuyết "thiên mệnh" hay còn gọi là "định mệnh". Từ đó, người ta đã hè nhau than thở, khóc lóc bằng bút mực, suốt trên hai trăm năm, để tỏ ý xót thương cho số phận cay nghiệt của nàng, và đổ riệt cái đại tội ác đức này cho Trời cao (!) Nhưng trong hoàn cảnh đó liệu con người có thể hay có quyền chọn khác đi không? Thúy Kiều có thể chọn lựa khác thay vì “bán mình” để chuộc cha nàng không? Xét trong tất cả các hành vi và ngôn ngữ của nàng Kiều, kể từ khi mới gặp Kim Trọng nhân dịp lễ Thanh Minh, cho đến ngày nàng gieo mình xuống sông Tiền Đường, để phủi sạch nợ trần, đều chứng tỏ cách hết sức rõ rệt: nàng ĐÃ CÓ THỂ có những quyết định khác và kết quả cũng sẽ khác thay vì “thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần” trong cuộc đời 15 năm lưu lạc, ê chề, "sống làm vợ khắp người ta, hại thay thác xuống làm ma không chồng” của nàng.
A-đam đã có thể chọn không nghe theo Ê-va; Giô-sép có thể chọn một người con gái khác làm vợ thay vì Mari, và mỗi một người được Chúa kêu gọi cách đặc biệt này hôm nay có thể từ chối sự mời gọi này, nếu họ muốn. Phật Giáo gọi điều này là mệnh hay là định mệnh tự tạo. Còn trong ngôn từ Cơ-đốc giáo, ta gọi là ý chí tự do hay là sự tự do chọn lựa của con người.
Như vậy, hành động của con người nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời. Con người có quyền tự quyết, có quyền nói “vâng” hoặc nói “không” trước lời mời gọi hay cảnh báo của Thiên Chúa. Thế nhưng, liệu rằng chương trình toàn diện của Đức Chúa Trời có triệt tiêu động cơ hành động của con người hay không? Nếu như Ngài đã làm cho chắc chắn điều sẽ xảy ra thì những gì con người chọn lựa có thực sự tạo ra tác dụng gì so với điều sẽ xảy ra không? Liệu có thể “hóa giải” được Thiên Mệnh trên một cá nhân, một cộng đồng, một quốc gia, … qua sự chọn lựa khác đi của con người chăng?
Người viết thích thú với cách trả lời của Erickson cho vấn đề này. Theo đó, nếu Đức Chúa Trời làm cho kết cuộc trở thành chắc chắn, thì chương trình của Ngài cũng bao gồm cả những phương tiện để đi đến kết cuộc này. Công tắc điện không khiến cho bóng đèn phát sáng nhưng nó là công cụ cần yếu để bóng đèn có thể kết nối được với điện – nguồn năng lượng khiến cho bóng tỏa sáng. Thế thì, hành động của con người không thay đổi điều mà Chúa đã định thực hiện. Hành động của con người là phương tiện mà qua đó Ngài làm trọn mục đích của Ngài.
Về một khía cạnh nào đó thì khái niệm tiền định của Đức Chúa Trời  có ý nghĩa tương tự như ý niệm định mệnh của người Hy Lạp khi cho rằng số phận con người là do ý chí của một sức mạnh siêu nhân. Tuy nhiên, điều mà Kinh Thánh nhấn mạnh là ý chí và chủ đích riêng tư của Chúa, trong khi ý tưởng thần hựu (providence) lại bao hàm và cần đến ý niệm tự do của con người. Ý chí của Chúa được thực hiện thông qua ý chí và hành động con người.
Thật bí ẩn, ở chừng mực nào đó mà con người không thể thấu hiểu nổi, thần hựu kết hợp sự tiền định thiêng thượng với tự do con người. Trong Kinh Thánh, con người có thể phản đối ý chí của Chúa hoặc cưỡng chống lại sứ mệnh đã được giao phó, nhưng sau cùng ý chí của Chúa cũng sẽ thắng vượt và con người sẽ phục tùng nó. Dự án của Chúa gạt qua một bên mọi dự án của con người và bắt ý chí con người phục tùng ý chí của Ngài. Nhưng thiên hựu không phải bất biến như định mệnh. Nó dành chỗ cho tự do con người.
Mặc dù được nhà tiên tri lưỡng lự Giô-na của Chúa báo trước thảm họa, dân chúng thành Ninive vẫn được cứu thoát, vì họ biết hối lỗi. Dự định của Chúa là cứu chuộc, chứ không phải kết án. Trí khôn và sức mạnh siêu việt của Chúa đem điều thiện ra từ cái ác, đem sự đón nhận ra từ sự khước từ. Các nhà tiên tri ngoại giáo, trái lại, nói trước những gì bị kết án sẽ diễn ra và không thể diễn ra khác đi được.
Tóm lại,  Đức Chúa Trời có sẵn mục tiêu cho vũ trụ là đưa vạn vật tới mức trọn hảo và cho con người sống với Thiên Chúa trên thiên đàng. Mục tiêu tối hậu này chính là sự tiền định của Chúa. Vì con người không thể tự mình đạt mục tiêu, nên con người cần sự trợ giúp của Đức Chúa Trời. Sự trợ giúp này được gọi là sự thần hựu của Thiên Chúa. Sự thần hựu là sự nâng đỡ trong yêu thương. Khái niệm về mục tiêu và sự thần hựu thường được nhiều người diễn dịch lệch lạc như là một định mệnh. Thực ra mục tiêu chỉ là lời hứa của Đức Chúa Trời  và sự thần hựu chỉ là lời mời gọi hợp tác hướng về một viễn tượng huy hoàng. Mục tiêu “trở nên hoàn hảo để về sống cùng Chúa” là cái đích để hướng tới chứ không phải là một áp chế. Đức Chúa Trời muốn con người, trong ý chí tự do, cộng tác với Ngài để hoàn tất công trình sáng tạo. Quyết định thế nào là tùy thuộc nơi mỗi một chúng ta. Nguyện xin Chúa bởi Thần Linh Ngài cảm động lòng mỗi một người trên dương thế “vừa muốn vừa làm theo ý tốt của Ngài”. A-men.
(Bài khóa luận của MSB, Môn Thần Học Hệ Thống 1, M.Div, UUC, 9/2008)




[1] Thư Viện Hoa Sen. Phật Học Vấn Đáp, câu hỏi 55. Online. Truy cập ngày 16/9/2008
[2] Millard. Erickson. Thần Học Cơ Đốc Giáo, Tập I. Hà nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2007, 380-381